Ý nghĩa các quẻ dịch – p2

Địa lý toàn thư

■ Ý nghĩa thời gian
Trên kia đã nói đến tam tài là nói về một khối có 3 yếu tô”, tương hợp vối nhau mói có kết quả.
Chữ thời có nghĩa là một lúc, một thòi gian hoặc hơn nữa, một khoảnh khắc.
Cũng thời một việc mà ở thời này thì tô”t, còn ở thời khác thì xấu.
Người nông dân chú ý đến thời gian, vì đời sông họ hên quan, mật thiết với thời tiết. Không phải lúc nào muôn gieọ mạ cũng được; phải đợi mưa xuống nhiều ít thê” nào đã.
Ngoài ra, riêng thời gian, cũng nên để ý đến thứ thòi gian lâu dài.
Thứ thời gian này có ảnh hưởng đến hai yếu tô’ kia của “tam tài”, nghĩa là có ảnh hưởng đến người và hoàn cảnh nói cách khác người và hoàn cảnh có thể thay đổi nhiều ít, mau hay chậm, là do ảnh hưởng của thời gian nhiều hay ít vậy.
Một thanh niên hai mươi tuổi trước một sự việc, phản ứng như thế nào đó theo tánh khí riêng của mình. Hai mươi năm sau, trước một cảnh ngộ tương tự, người thanh niên đó trở nên người bôn mươi tuổi, không phản ứng như trước kia. Có thể khác hẳn.
Bản tánh con người có thể thay đổi, từ tốt ra xấu, hoặc từ xấu ra tốt, nếu hoàn cảnh thay đổi; và cũng có những bản tánh không bị, hoặc ít bị ảnh hưởng của hoàn cảnh, của địa vị. Trường hợp này rất hiếm.
Nhưng dầu sao, một thời gian lâu dài cũng phải có ảnh hưởng đến bản tánh. Chẳng hạn như tốt thì tốt thêm, hoặc xấu lại xấu thêm.
Ánh hưởng của thời gian lâu dài đến con người là như thế, còn như ảnh hưởng đến hoàn cảnh vật chất (địa lợi) thì là một điều dĩ nhiên rồi, khỏi phải bàn tới. Sở dĩ Kinh Dịch đặt vấn đề thời gian là vì một hành động nào của con người trong hiện tại cũng có hên quan đến quá khứ và nhất là tương lai.
Quan tâm đến thòi gian là một khi làm việc gì quan trọng phải nghĩ đến cái hậu quả của nó, vì cái hậu quả ấy, có khi, sau một thời gian khá lâu mới hiện ra. Có những hậu quả không còn liên quan đến cá nhân hành động, lại xảy ra cho người khác đâu.
Một thường nhân có thể không nhận thấy được, nhưng ngưòi biết suy xét có thể tiên đoán được dễ dàng.
Nói chi đến việc làm, một lòi nói cũng có thể có hậu quả của nó, tức là cái “Khẩu nghiệp” của nhà Phật vậy.
Tóm lại, Kinh Dịch nêu ý niệm thời gian để tập cho người ta suy nghĩ đến tương lai, nếu tốt thì khuyến khích góp công vào.
Nếu xấu thì lo tránh hay ngăn đón trước.
Chẳng những ý niệm thời gian liên quan đến tương lai, mà nó cũng kéo ngược ta trở lại quá khứ nữa.
Cái quá khứ, thường là cái nguyên nhân của hiện tại, cho nên, để ý đến dĩ vãng cũng rất cần trong đạo xử the.
Nếu ta để ý biết cái hoàn cảnh đã qua của một người nào thì ta dễ hiểu việc làm hiện tại của người đó. Như thế, việc phán đoán một sự việc hay một người, mới ít sai lầm và mới dễ hợp tình, hợp lý.
Có thể tóm tắt mục này như sau:
ở đòi không có cái gì là trưòng cữu, vĩnh cửu cả. Cái gì cũng có thể thay đổi, biến dịch theo thời gian, nhưng mau hay chậm, đáp ứng tâm trí con người hay không, ấy là do con người phần lớn vậy. Thế nên, làm diều gì, cần nghĩ đến nhân quả, để mà cân nhắc thận trọng. Phán, đoán một ngưòi nào, một sự kiện gì ta nên xét hoàn cảnh riêng biệt của người ấy, việc ấy, trên khía cạnh thời gian? không gian.
■ Ý nghĩa trung dung
Tam tài, tức thiên địa nhân: thiên thòi, địa lợi, nhân hòa. Thiên thời ảnh hưởng đến địa lợi; nói cách khác, hoàn cảnh ăn chịu với thòi gian như thế nào, đã thấy ở trên. Nhân hòa nghĩa là con người phải hòa hợp thòi gian với hoàn cảnh ra sao, chính là vấn đề trung dung vậy.
Theo nghĩa thông thưòng, trung dung là ở chính giữa hai cực đoan, không thiên bên nào, vừa chừng, vừa phải.
Nhưng sao mới gọi là vừa phải? Đó mới là chỗ khó. Nhưng ta cũng tạm lấy một tiêu chuẩn. Hễ lẽ đương nhiên, lẽ phải của số đông cho là vừa phải, ấy là vừa phải.
Kỹ thuật, trung dung rất khó định, nếu hiểu theo dịch lý. Nó có nghĩa là đúng thời cơ. “Thời” được tượng trưng bằng hào trên, và “cơ” là nền tảng (thay vì máy móc) thì được tượng trưng bằng hào dưới. Còn “người” là hào giữa, đắc trung, hành động đúng lúc, trong hoàn cảnh nhất định, ấy là trung dung.
Sở dĩ khó định vị trí của trung dung là vì một bên là thời gian một bên là không gian, nghĩa là hai yếu tố không đồng chất.
Chớ như định vị trí chính giữa một con đưòng dài cũng có thể chỉ rõ dễ dàng. Hoặc chính giữa khoảng thời gian một năm chẳng hạn, thì cũng biết chắc là ngày nào. Đàng này biết được thời nào hợp với hoàn cảnh nào, ắt phải là một người có nhiều kinh nghiệm, có nhiều hiểu biết mới có thể không lầm.
Mục đích thiết thực của Kinh Dịch là thời cơ, là trung dung đó.
Trong đời sông kinh tế, trung dung có nghĩa là tùy thời mà châm chước cho hợp lý hợp tình. Như quan tòa xét xử phạm nhân: có những trường hợp tình ngay mà lý gian, không thể răm rắp áp dụng luật pháp một cách cứng rắn, máy móc.
Xét hình thức của 8 quẻ đơn (bát quái), ta thấy rằng hai quẻ Kiện và Khôn có một tính chất riêng biệt, nó gợi thiên nhiên hơn nhân sự, vì mỗi quẻ đều, hoặc thuần dương, hoặc thuần âm.
Trên kia đã thấy, hễ là người trong dương có âm, trong âm có dương, có âm dương mối có sự sống.
Ngoài hai quẻ Kiền Khôn, còn lại 6 quẻ, ba quẻ thiếu dương, ba quẻ thiếu âm. Trong sô’ đó quẻ Khảm và quẻ Ly đặc biệt gợi ý niệm trung dung vì hào định tính chất của nó là hào giữa, thế nên không đổi dạng khi lật lên, lật xuống.