Xây dựng nhà ở của nhân dân theo thuật phong thủy

Địa lý toàn thư

Xây dựng nhà ở của nhân dân theo thuật phong thủy
Ăn ở là vấn đề hằng đầu sinh tồn của nhân loại. Trong chương này sẽ tập trung nói về vận dụng bát quái như thế nào để đoán về nhà ở tốt hay xấu.
Phong thủy của nhà cửa tốt hay xấu không những liên quan trực tiếp đến vận mạng tốt xấu của mình mà còn đến sự vượng suy của con cháu đòi sau, do đó tô tiên chúng ta đã phát minh ra phong thủy âm dương, môn khoa học này, khoa học hiện đại gọi nó là Tham dự học.
Phong thủy âm dương, âm là chỉ âm trạch tức phong thủy tốt xấu của phần mộ, dương là chỉ dương trạch – tức là phong thủy tốt xấu của nhà ở. Bất kể là âm trạch hay dương trạch phàm ở chỗ đồi núi sông nước bao bọc đều là chỗ tốt. Cho nên tổ tiên đã thành lập những thành phô” trên lưu vực những con sông lốn, đó đều là những nơi sơn thanh thủy tú.
Sông núi bao bọc đó là điều kiện địa lý phong thủy âm dương tốt, ngoài ra còn cần đến phương vị của: khí, quang, sơn thủy phải sáng sủa, thoáng đãng, khí trong âm dương phong thủy học là một nhân tô” rất quan trọng. Vì sự hưng vượng của sự vật đều do khí đóng vai trò tác dụng chủ đạo.
Khí là môi trường tốt, là nơi nước lưu thông, là nơi tiềm tàng hội tụ một môi trường tô”t. Người sông ở đó, mạng vận sẽ hanh thông. Quang là sáng sủa, là hướng dương. Người sông ở đó thì sẽ hưng vượng. Sơn là cô”t nhục, thủy là huyết dịch. Sơn là cọp thủy là rồng, mà rồng cọp là chỉ địa thế được trấn ngũ. Sơn là báu vật, thủy là long tức báu vật có rồng bảo hộ. Sơn là võ thủy là văn, tức là văn võ song toàn. Sơn là chỗ dựa, thủy là lưu thông, nhà ở dựa vào núi là yên ổn. Dựa vào nước mà lưu thông bốn phương tám hưóng, người ỏ đó sẽ phú quỷ vinh hoa. Phương vị là hướng cửa chính (cũng gọi là hướng nhà) thứ nhất phải nhìn ra chỗ rộng rãi, thoáng đãng, nhưng không được phân tán quá, thứ hai là phải phù hợp vói hưóng tốt trong mạng quẻ của chủ nhà, thứ ba là cần phải có thế, chỗ cao ráo, nhưng không được quá cao, càng không thể trước cửa cao hơn nền nhà, thứ tư là các vật như đồi núi trước nhà không thể gần cửa nhà quá, thứ năm là môi trường xung quanh phải sạch, người ỏ đó sức khỏe mới tốt.
Do đó lúc xây nhà mới nên nhờ người xem phong thủy âm dương để chọn được thế đất có phong thủy tốt. Lúc xây nhà mới, ngoài việc chọn chỗ tốt, ngày giờ khỏi công (ỏ nông thôn là lúc cất nóc) cũng rất quan trọng. Nếu ngày giờ khởi công không tốt thì quá trình .xây dựng thậm chí đã xây dựng xong cũng thường gặp phải việc xấu.

Mỹ thuật với thuật phong thủy
Các hiền triết đòi xưa rất trọng cái đẹp. Ngay từ cuối đời Xuân Thu, Ngũ Cử đã định nghĩa về cái đẹp mà sách “quốc ngữ – sồ ngữ” đã ghi lại “về cái đẹp trên dưói trong ngoài, to nhỏ đều vô hại” như vậy gọi là đẹp, định nghĩa của Ngũ Cử đã chỉ ra đặc trưng về bản chất cái đẹp, đó là sự hài hòa.

■ Nhà Phong Thủy nói có bốn địa hình đẹp:
Một là La thành châu mật. La thành tức là Sa, Thủy xung quanh huyệt. Sa Thủy bày la hệt như sao trên trời, bảo hộ huyệt như thành trì vì vậy gọi La Thành. Vị trí cắm huyệt như đại tướng ngồi trong trướng, cò quạt sĩ tốt sắp hàng hai bên, tám cổng thành khóa chặt chân khí.
Hai là Sa thủy nội triều. Sa thủy bốn bên ôm lấy huyệt địa, các đình đều hướng vào trong, tựa như rất có tình, lại có dáng như cúi chào.
Ba là Minh đường rộng rãi. Trong cái địa thế được sơn thủy vây quanh, có một bãi phang, nhỏ thì lập được một thôn lón mới xây được một thành phô”.
Bôn là Vượng khí bừng bừng, toàn bộ diện tích sinh cơ hừng hực, cây CÔI xanh tốt, mùa màng tốt tươi.
■ Phong thủy còn có mười địa hình xấu:
Một là long phạm kiếp sát, phản nghịch. Hai là long có sống lưng sắc như lưỡi kiếm. Ba là huyệt có hung sa ác thủy. Bốn là huyệt có phong khí thổi ra. Năm là Sa có hiện tượng vỡ lở. Sáu là Sa quay lưng lại huyệt. Bảy là Thủy như cây cung chĩa thẳng vào huyệt. Tám là Hoàng tuyền đại sát. Chín là phương hướng phạm sinh phá vượng. Mười là phương hướng phạm bế sát thoái thần. Theo thuật Phong Thủy, các địa hình trên, nếu làm nhà, để mả đều không tốt.
Các sách Phong Thủy miêu tả rất nhiều về vẻ đẹp sông núi, và đã tiến hành phân loại. Như “Huyền nữ thanh nang hài giác kinh” quyển bôn, khi bàn về đất đai viết: “Đất của thánh hiến nhiều đất ít đá, đất của Tiên, Phật nhiều đá ít đất. Đất của Thánh hiền thanh tú kỳ nhã. Đất của Tiên, Phật của quái. “Thanh Tú” không bỏ đất đi là kỳ, không đem đá đến là tiên. Lành như loan phượng, đẹp như ngọc khuê, nặng như đỉnh vạc, cổ như Hà đồ lạc thư, văn chương để lại tiếng thơm, giàu có khó mà nhất nưốc. Thanh quan quá lộ, vì quý mà không làm quan, đạo phục đoan trang, lưu danh thiên cổ, hiếu nhiều phước ít, chùa là nơi ăn ỏ vạn năm. “Thanh kỳ” như cành mai trong gió lạnh, cất cách giữ nguyên hạc trời mảnh mai, thân quang độc kiếm, khúc khuỷu như hoàng nguyên: nhọn hư hàng vạn ngọn lửa đất cháy thuyền, thẳng tuột như tích trượng cao chín tầng mây: vách đá cheo leo như sắp đổ, đỉnh cao khuyết lõm như đổ nghiêng, không vướng chút bụi trần. Duy chỉ có vầng trăng vằng vặc trên sông, bao la vạn dặm. Không có khách phong trần, thì cũng thanh tao như văn nhân mặc khách”.
Đoạn văn trên miêu tả rất cụ thể thế nào là “thanh tứ’ thế nào là “thanh kỳ”. Thánh hiền là những người nhập thế, lấy “thanh tú” làm chuẩn mực cho cái đẹp. Tiên Phật là những người xuất thế, lấy “thanh kỳ” làm chuẩn mực cho cái đẹp. Vật đẹp kiểu “tú mỹ” là hàn mai (cây mai trong gió rét), dã hạc (hạc trời), cốt cách (gầy như que củi).
“Quản thị Địa lý chỉ mông” quyển hai, khi bàn về địa hình, địa thế, cũng miêu tả: “Mây đùn ra khỏi động, rồi tỏa xuống như đàn hươu chạy xuống núi. Từng mảnh từng mảnh sà xuống, hàng trăm ngàn mảng nối nhau mà cuồn cuộn trôi đi, như con trùng bò theo bờ ruộng, như nhện giăng lưới trước hiên, như hoa văn trên mặt lụa, như sóng gỢn trên mặt nước, nhấp nhô liên tiếp.