Tục lệ cải táng

Địa lý toàn thư

“Cải táng” là tục lệ của một số’ địa phương và là việc làm của một sô” gia đình câu nệ. Tục này sở dĩ có là vì các lý do kể sau:
1. Vì hoàn cảnh nhà nghèo, khi cha mẹ mất phải mua tạo cỗ ván xấu, không bền chắc, đợi ba năm cải táng để dùng tiểu sành (hũ đựng cốt) có thể tồn tại được thiên niên vạn đại. Ngày nay cũng có cải táng, đa phần vì các lý do giải tỏa đất khi có các chương trình phát triển đô thị nới rộng các khu dân cư hay các khu công kỹ nghệ.
2. Gặp lúc bất lợi do thòi tiết mùa màng, nhiều gia đình trong vùng đất đồng chiêm mùa nưóc lụt, hay đất lở, hoặc khi có người chết phải mai táng tạm bợ ở những nơi không được vừa ý.
ở miền Nam, tại những vùng nước nổi vào những thời kì nước dâng cao, không còn đất để chôn, nhiều nhà nghèo phải lấy chiếu bó thây neo bằng cối đá, đợi lúc nước rút hết đi, lượm xương cải táng lại.
3. Xa xứ, người chết ỏ một nơi xa, phải tạm chôn nơi đất khách quê người, về sau đem hài cốt về quê hương cải táng.
4. Tin theo khoa địa lý, một số ngưòi thấy chỗ mả tự nhiên đất sụp vô cớ nứt thành đường, hoặc cây cỏ mọc trên mả tự nhiên khô héo dần thì cho rằng ngưòi chết nằm không yên.
5. Trong nhà có dâm loạn, trai gái bỗng nhiên hư hỏng làm mất thanh danh gia đình dòng họ.
6. Trai gái hóa ra điên cuồng, hỏa tai chết chóc.
7. Người mất của mất sinh ra kiện tụng nhau.
8. Cầu danh phú quý, nhờ khoa địa lý tìm “long mạch”, chỗ hưng phát.
Có khi ở trong nhà làm ăn lủng củng, hư hao sản nghiệp, con cháu có đứa đâm ra ngỗ nghịch đến mức gây án mạng, hay là trong nhà có nhiều người thường hay đau yếu, nhất là trọng bệnh thì người ta cho rằng đất chôn sát mạch sát hướng, hoặc là tại động mả vì có rễ cây mọc, xâm nhập vào quan tài, hoặc là có bất cứ một lẽ gì làm cho hài cốt không được yên.
Xưa nay, khi trong nhà làm ăn không khá lại lủng củng, đau yếu luôn thì người ta cải táng mồ mả thân nhân.
Theo tục lệ xưa, chôn lúc mới chết là “hung táng”. Ba bốn năm sau tang gia lo “cải táng” nghĩa là bốc mộ thu gom cốt đi chôn lại tại một nơi khác, người bình dân gọi là bốc mộ nói chữ cát táng, cải cát.

Cũng theo một cổ tục có những thường hợp người ta cho rằng “mả kết”, có những điểm hay, không nên cải táng gọi là tường thụy:
1. Thấy con rắn vàng sống ở mả hay khí vật gì. Đất ở đây thịnh, mả kết nên rắn hoặc khí vật mới ở trong đó (long xà khí vật)
2. Khi mỏ nắp quan tài thấy dây leo tơ hồng quấn quít ở chỗ áo quan hoặc có những giọt nước trắng như sữa ở bên ngoài hoặc trong áo quan những giọt nưóc này hơi ấm. Mả như vậy có sinh khí và đã kết, phải lấp lại ngay.
3. Một hơi ấm tiết ra ỏ mộ, trong huyệt lại khô ráo. Đất đây tốt cũng phải lấp ngay.
4. Những xương cốt dính liền vào nhau kết thành tượng, mả này kết thành tượng rất quý, phải lấp lại.
5. Cho dầu rằng nằm dưới đất trũng đất ruộng, mả tự nhiên bồi đất lớn ra, như vậy là mả phát, gia đình con cháu làm ăn phát đạt, giàu có hay đỗ đạt.
Ngưòi ta phải chọn ngày thích hợp với việc cải táng tránh ngày khắc với tuổi người chết.
Trước hôm cải táng, phải làm lễ, cáo vong và cáo gia tiên. Ngày táng lại phải làm lễ khấn thổ thần nơi mả xin đào lên, và cúng thổ thần nơi sắp đem chôn lại.
Sau khi đào đất, cạy nắp quan tài người ta thu lượm từng cái xương, chăm chút không bỏ sót; để cho khỏi bỏ lại những mẫu xương đốt ngón tay ngón chân. Lúc liệm trưóc kia, chân tay người chết thường được bao bằng những cái túi vải nái tơ bền không rách nát, lúc bốc mộ thì việc giõ những cái túi đó lên, lượm xương dễ dàng khỏi phải tìm kiếm.
Xương được rửa sạch, xếp gọn vào một cái hũ sành, rải nưóc ngũ hương, phủ giấy trang kim, đậy nắp hũ, đem táng nơi khác xa gần tùy đất đã chọn, không bao giờ lại táng luôn nơi cũ.
Trong khi lượm rửa xương, người ta phải kiêng giữ không để cho ánh mặt trời soi vào. Nhà giàu sang gói bọc xương bằng gấm vóc như liệm lúc chết, và ngoài hũ sành lại có quách bằng gỗ quý sơn son trang trọng
Việc thu nhặt xếp xương vào hũ sành gọi là sang tiểu (vì hũ sành được gọi là tiểu sành). Tục ngữ xưa có câu: “Đợi sang tiểu” là có ý nói đợi đến chết cũng chưa làm được.
Áo quan được tháo gõ. Những tấm gỗ tốt dày dặn dầu cho là gỗ vàng tâm cũng không được dùng làm gì ngoài việc bắc cầu trên đường, hoặc lót chuồng trâu, chuồng ngựa hay chắn chuồng heo.
Ngày cải táng, con cháu lại phải để tang một lần nữa nhiều gia đình lại khóc lóc thảm thiết. Cải táng xong, gia đình về làm lễ cúng vong và gia tiên và ăn uống trong tinh thần gia tộc.
Xưa, nhiều thầy dạy học sống cuộc đòi thanh bạch được các học trò của mình cùng nhau lãnh việc cải táng, xây mộ phần và tế yên mồ rất trọng thể.
Sau khi cải táng, mới được thỉnh lư hương và thân chủ sang nhà thò chung ở gian giữa vói tổ tiên, nếu không muốn thờ riêng như trước ở gian bên.
Khi “hung táng” mộ đắp hình chữ nhật theo chiều đặt quan tài lúc hạ rộng, khi “cải táng” người đắp hình tròn gọn hơn nếu không xây đắp hoa mĩ.