Tìm hiểu về kinh dịch

Địa lý toàn thư

kinh dịch là một bộ sách cổ trong Ngũ kinh của Trung Hoa. Theo truyền thuyết, từ đời Thượng cổ, vua Phục Hy (4477- 4363 trước Tây lịch) nhân thấy những dấu vết như bức vẽ trên lưng con Long Mã nổi lên trên sông Hoàng Hà mà lập ra Hà Đồ vạch ra tiên thiên bát quái gồm 8 quẻ, mỗi quẻ có 3 vạch, vạch liền biểu thị cho Dương, vạch đứt biểu thị cho Âm. Và khi từng hai quẻ chồng lên nhau (gồm 6 vạch) qua 8 quẻ (8×3) tạo nên 64 quẻ kép, mọi việc từ thiên văn, địa lý đến cai trị dựa vào bói toán qua các quẻ ấy mà luận định.
Đến đời nhà Hạ, vua Đại Vũ (2205-1766 trước TL) nhân lúc trị thủy thấy dấu vết trên lưng con rùa thần trên sông Lạc mới lập ra Lạc Thư và định ra cửu trù tức là 9 điếu căn bản dạy dân trong sinh hoạt hằng ngày.
Đến thời điểm ấy, Kinh dịch chưa có gì thành văn tự. Khi vua Văn Vương nhà Chu bị vua Trụ nhà Ân bắt giam ở Dữu Lý 3 năm, ông mới đem các quẻ của Phục Hy đặt thành hậu thiên bát quái, dùng văn tự để giải thích việc tốt xấu của từng quẻ gọi là quái từ. Chu Công Đán, con Văn Vương tiếp theo đó giải nghĩa từng hào (từng vạch) trong một quẻ gọi là hào từ.
Nhận thấy việc giải thích trên còn quá vắn tắt trong khi tư tưỏng Dịch lý rất uyên thâm, Khổng Tỏ (551-479 trưóc TL) bằng viết thêm 10 thiên truyện gọi là thập dục để quảng diễn nghĩa. Từ đó đến sau này, nhất là đời nhà Tông, các danh nho đã phát huy dịch học một cách phong phú. Đến nay, tổng ước lượng đã có 158 sách nghiên cứu dịch học tại Trung Hoa.

Kinh dịch là một pho sách triết học rất sâu thâm nhưng cũng rất hấp dẫn. Khổng Tử cũng đã nhìn nhận là học Dịch phải mất nhiều công sức và thời gian, sách sử ký Tư Mã Thiên đã nói: “Ông Khổng Tử về già, xem Kinh Dịch đến 3 lần, làm đứt cả lề sách rồi mới làm thêm các thiên truyện”. Còn chính Khổng tử trưóc khi từ trần, còn than tiếc nói với học trò: “Giá như ta được thêm ít năm nữa để học Dịch cho trọn vẹn thì không có điều sai lầm lớn”. (Luận ngữ học chi).
ở nước ta, từ đòi Lý, Kinh Dịch đã sớm đưa vào học và nội dung thi cử. Các cụ thi đỗ đạt không ai là không biết qua về Âm Dương, ngũ hành nhưng phần nhiều cũng còn là cưỡi ngựa xem hoa hay đến mức phổ thông để làm nghề thuốc, địa lý và bói toán, rất ít người nghiên cứu kỹ lưỡng và có hệ thông, có một số’ sách được viết để lại cũng bị thất lạc. Những nhà tinh thông Kinh Dịch có thể biết được qua một số’ sách để lại hoặc qua sự nghiệp của các cụ thì có thể kể là: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đào Duy Từ, Nguyễn Thiếp, Lê Quý Đôn với Dịch Kinh phu thuyết gồm 6 quyển hay Trần Cao Vân với Trung Thiên Dịch.
Những năm gần đây, có thêm một sô” tác giả đã viết và bàn giải về Kinh Dịch như: cụ Phan Bội Châu, Ngô Tất Tô”, Nguyễn Mạnh Bảo, Bưu cầm, Lê Chi Thiếp, Nguyễn Duy cần, v.v…