Thuật phong thủy với vấn đề đất đai – p2

Địa lý toàn thư

* ĐẤT KẾT HUYỆT
Tìm huyệt tốt để mai táng cần chọn những nơi có đặc điểm sau:
Nếu là nơi bùn lầy, nhưng trên vũng động có xuất hiện thái cực vượng (những nét hoa văn hiện lên như thái cực đồ).
sắc bùn phải tươi nhuận, sáng đẹp không dính tay, quá khô hoặc quá ướt thì huyệt nên tránh.
Trong huyệt không có uế khí xông lên nếu được các điều trên dù là không phải đại huyệt cũng không sợ là hung huyệt. Có thể nói, trên đời còn có Bá Nhạc thì thế nào cũng có thiên lý mã. Như con người có các trọng huyệt trên thân thể, đất cũng có các huyệt địa, những huyệt địa rất quan trọng. Phép điểm huyệt đôi với con người chỉ ảnh hưởng đến sinh mạng người đó, còn điểm mạch đất thì ảnh hưởng đến cả dòng tộc.
Thuật tìm huyệt điểm long mạch trong phong thủy cũng khó như kẻ học điểm huyệt trong võ học phải có chân sư truyền dạy và chú tâm luyện tập.
Những huyệt đại cát đại hung rất khó nhìn ra, cho nên nhiều gia đình mong hậu vận phát đạt để con cháu phú quý, đã không quản ngại xa xôi, tốn kém rước một chân sư phong thủy nuôi nấng trong nhà. Thông thường tìm được một huyệt tốt phải mất ba tháng cho tói ba năm, tất nhiên có khi chỉ vớ được thầy nói dựa thì vừa tốn tiền vừa tốn công, các thầy phong thủy cũng có thể bào chữa sự sai lầm của mình với nhiều lý lẽ vì: “thiên cơ bất khả lậu”. Chẳng hạn nhà họ Châu muốn mai táng phần mộ tổ phụ bèn đến Lạc Thành rước thầy phong thủy, thầy ăn ở trong nhà được cung phụng còn hơn tổ phụ lúc sinh tiền, hai năm sau thầy chỉ một huyệt mạch rồi bảo: mười bảy năm sau long mạch mói linh nghiệm.
Thế gian biến cải từng giò, biển xanh phút chốc biến thành nương dâu, huống chi 17 năm sau ai mà lường trước được, nếu 17 năm sau gia càng phát đạt thì thầy được tôn sùng, ngược lại thì đổ lỗi cho vận chưa đến, cho nên những cái thuộc về truyền cơ phải luôn tỉnh táo, đừng ngông cuồng phủ nhận, cũng đừng hoàn toàn mê tín, phàm muôn xác định hậu vận cho con cháu thì phán xét những gì mình làm hôm nay, ăn ở phước đức thì đại họa khó vào nhà, nếu có gặp vận hạn thì cũng nhanh chóng thoát khỏi, phàm kẻ học phong thủy thì tìm âm trạch phải biết tích âm đức, cho nên trong tam tài tương hợp với nhau thì riêng trời không giáng họa phưốc, riêng người không thể gieo họa phước.
Tìm đất kết huyệt, trước tiên phải cẩn trọng. Đời Nguyễn Triệu Quang viết cuốn “phong thuỷ tuyển trạch tự” có nói rằng, vô phước cho kẻ nào không có nhân duyên mà lại được huyệt tốt. Dẫu là cái tốt xấu của phong thủy, huyệt mạch ảnh hướng đến cái hung, nhưng âm đức của con người có thể cải hồi vận mạng, đến như thầy phong thủy Quách Phát, Cao Biền tài giỏi kinh thiên động địa nhưng có gặp huyệt đế vương cũng không dám dành cho mình bởi biết dù có đạt địa lợi nhưng thiên thời và nhân hội còn khuyết, ắt chưa dám nghĩ bàn.

* ĐẤT LÀM NHÀ Ở
■ Đất làm nhà ở theo thuật phong thủy
Trong xây dựng, người ta rất mong tìm được địa hình đẹp để công trình kiến trúc có một hoàn cảnh đẹp.
Các triết gia cổ chủ trương công trình kiến trúc phải hài hòa vói thiên nhiên, như vậy vừa không phiền với con người, vừa làm nổi bật thiên nhiên khiến người ta có cảm giác tươi mới, mới có thể nhận khí thiêng của sông núi, tinh hoa của nhật nguyệt. Rèn luyện tinh thần, ý chí tình cảm, di dưỡng khí của đất tròi, đồng thời tăng cường được tô’ chất của cơ thể.
Các triết gia cổ chủ trương nhà ở phải kế núi gần sông, đất đai màu mỡ, cây cỏ xanh tốt, quán tử – thừa mã viết “phàm lập quốc đô (thủ đô của nước) nếu không là dưói đại sơn (núi lớn) thì bên đại xuyên (sông lớn), cao nhưng không khô hạn, nưốc dùng phải đủ, thấp không sát nưóc, phải có kênh rạch để phòng”. Quản tử – đô địa lại viết: “thánh nhân lập nước quyết không chọn địa hình dốc, chọn đất phì nhiêu”.
Các triết gia cổ chủ trương khảo sát tổng hợp nền đất làm nhà, tả huyệt chép năm thứ 25 đời Lê Nhượng Công sỏ vi yểm đề xướng, ghi chép điền thổ đo đạc núi rừng, thống kê hồ ao, phân tích đất rộng hẹp nắm lượng muôi ăn, phân định cương giói, khai thông nưóc động, đắp đê chống lụt, chăn nuôi đào giếng lấy nước tưới ruộng.
Nhà thơ Đường Đỗ Mục có câu “núi cổ hoa chùa ẩn trong mây, sông thanh qua cầu vờn cành liễu” miêu tả đẹp nhất về nơi ở. Mây núi vờn trên lối đỉ trên núi Cửu hoa, ngôi chùa khi ẩn khi hiện. Nước xanh chảy quanh thôn Thanh Qua, gió xuân lay động trên cành liễu phất phơ trên mặt cầu, cầu là nơi thoát nước đi của thủy khẩu thôn nằm gọn trong vòng ôm của liễu xanh và dòng nước cuốn quanh, xa xa có núi lớn làm bình phong, nơi gần có đường đi có cây cầu, núi đường đi mây chùa, thôn xóm liễu cầu sông là một vùng đất kết hợp được động với tĩnh đầy sức sống.
Phong thủy có một loại tưóng pháp phức tạp để xem xét chỗ đất làm nhà, ở vùng núi thì xem thế núi, long mạch mạch lớn thì thế lớn thì khí lớn. Mạch khí là cơ bản sa thủy là để ứng dụng, khí cục được cả hai là quanh co là phưóc địa (đất phát phưóc), ở vùng có gò đồi muôn được nơi rộng rãi thông thoáng, bốn phía chầu về không có chỗ để trông trải, lở lói, sụt lở chủng sâu, vừa rộng vừa dài lại tàn phong nhất khí, đất núi thì xem mạch, khí mạch thì phải xem trọng nước (thủy), ở đồng bằng thoạt nhìn hình như không có long mạch, thuật phong thủy nói rằng, bờ ruộng dù chỉ cao một tấc là long, bờ ruộng to nhỏ đều là long, lại còn xem nước thủy. Có câu quyết như sau: “đến đồng bằng, không cần hỏi tông tích, chỉ cần xem nước uốn lượn biết chân long”. Đất bằng thì xem nưóc thủy thần vương ở mạch.