Thuật phong thuỷ với ngoại cảnh thiên nhiên

Địa lý toàn thư

* KHÍ (SANH KHÍ, TỬ KHÍ)
■ Khí – Luận bàn vể khí, sinh khí, tử khí theo quan điểm của thuật phong thủy
Khí là một khái niệm rất trừu tượng thời cổ đại. Ngưòi duy vật cho rằng khí là nguyên tố cấu thành nguyên bản thế giói, cho rằng khí là vật phái sinh từ tinh thần (do tinh thần đẻ ra), các triết gia cổ cho rằng các khí tồn tại ở mọi nơi, cấu tạo nên vạn vật, khí không ngừng vận động, biến hóa. “Lão tử” nói: “vạn vật phụ âm mà bảo dương, xung khí dĩ vi hòa”. Trương Tải đời Tống, do “Chính Mông – Thái Hòa” nói: “Đại hư vô hình, khí là bản thể, khí tụ khí tan, biến hóa thành hình thể khác”.
Khí là khái niệm rất phổ biến, rất quan trọng trong khái niệm của thuật Phong Thủy. Có sinh khí, tử khí, dương khí, âm khí, thổ khí, địa khí, tụ khí, nạp khí, khí mạch, khí mẫu, v.v… Khí là nguồn gốc của vạn vật, khí biến hóa vô cùng, khí quyết định họa phước của con người. Con người muốh tránh tử khí, đón sinh khí, thì phải mời thầy Phong Thủy “lý kh픑 – xử lý vấn đề khí “Lý khí” cực kỳ phức tạp, phải kết hợp âm dương ngũ hành, tìm cho ra vương tượng mới có được “sinh khí” thì có phú quý. Do đó, thuật Phong Thủy thực tế là “thuật tướng khi”.
Thuật phong thủy coi khí là gốc của vạn vật, “Quản Thị Địa Lý chỉ mông”, Quyển 1 “Hữu vô vãn lai”, viết “Vị kiến khi viết thái dịch, khí chi thủy viết thái sơn… nhất khí tích như lưỡng nghi phân, nhất sinh tam nhi ngũ hành cụ, hung cát hốỉ lân hữu cơ nhi khả trắc, thịnh suy tiêu trưởng hữu độ nhi bất dụ”. Nghĩa là thế Giới từ không (vị kiến khí) đến có (khí chi thủy) khí là nguyên bản (nhất) phân hóa thành âm dương (lưỡng nghi), lại phân thành năm loại vật chất kim. mộc thủy hỏa thổ (ngũ hành). Sự thịnh suy còn mất của những vật chất này là qui luật không thể khác đi (hữu độ nhi bất dụ), hơn nữa có họa phưóc (cát hung hối lân). Những họa phước là có thể đoán trước được. Đoạn văn trên là mở rộng “thuyết thái cực” của “Chu Dịch”, mang màu sắc duy vật biện chứng giản đơn.
Thuật Phong Thủy cho rằng, khí biến hóa vô cùng. Khí có thể biến thành nước, cũng có thể tích tụ thành sông ngòi. Tường Bình Giai trong phần “sự vận hành kỳ diệu của khí” trong tác phẩm “Thủy long kinh”, viết: “Ban đầu chỉ có khí, đầu tiên là hóa thành nưóc, nưóc tích tụ tạp chất thành núi”. Sách viết: “khí là mẹ của nưóc, nước là con của khí, khí chuyển động, nước chuyển động theo; nước dừng, khí cũng dừng, mẹ con cùng cảnh, khí nưóc theo nhau. Vậy là nổi lên mặt đất mà trông thấy vết tích, đó là nưốc: chuyển động trong lòng đất mà không thấy hình, đó… là khí”.
Ngoài và trong cùng một tác dụng, tạo hóa quả thật kỳ diệu. Do vậy, thấy khí trong lòng đất đi về Đông hay đi về Tây, thì biết được nưóc chảy đi hay chảy đến. Rồng
di chuyển được nưóc hỗ trợ, khí dừng lại tất do có thủy giới. Nước giúp rồng di chuyển, cho nên xem nước từ đâu đến là biết khí bắt nguồn từ đâu. Cũng vẫn là nước dừng long khí lại nên quan sát nút giao hội của nưóc mà biết long khí tụ ở chỗ nào. Qua đó ta thấy sơn mạch (mạch núi) và hà lưu (dòng sông) thông nhất trong “khí”, tìm sinh khí thì phải quan sát hướng đi của núi, sông.
Thuật Phong Thủy còn cho rằng, khí quyết định họa phước của con người. Có đất là có khí, con người sinh ra là được khí, chết là trở về khí. Quách Phát “Cổ bản táng kinh” viết rất cụ thể: “Táng là để nhận sinh khí. Khí âm dương, thỏ dài là gió, bay lên là mây, rơi xuôhg là mưa, di chuyển trong lòng đất là sinh khí, di chuyển trong đất mà sinh ra vạn vật”. Con người ta, thân thể là do cha mẹ cho, thể xác được khí di thể được ấm. Người sốhg là khí ngưng tụ, kết thành xương cốt, khí chết thì chỉ còn lại xương.
Do đó, mai táng là phản khí nội cốt mà phước ấm sinh ra là như vậy. Sách kinh viết: “Khí cảm mà ứng họa phưóc đến người”, vì vậy Đồng Sơn ỏ phía Tây bị sụp lở, thì linh ứng Trung Sơn phía Đông, cây ra hoa mùa xuân, mầm lúa nhú trong nhà. Khí vận động trong đất, sự vận động như thế nào là do địa thế: khí tụ lại là do thế mà dừng lại. Núi đồi là thân, gò đống là cành, khí đi theo thân đến cành. Sách kinh viết: khí gặp gió tất tản ra, gặp nước tất dừng lại, người xưa tụ khí lại không cho tảng đi, để khí vận hành mà có sự dừng Tại”.
Những điều nói trên có thể gọi là cương lĩnh tổng quát của Phong Thủy, mà hạt nhân của cương lĩnh này là khí. Từ đoạn văn trên, ta biết được cách nhìn tổng quát của nhà Phong Thủy đối với khí: Sinh khí là khí ban đầu chỉ có một rồi vận động biến hóa mà thành, ở trên đời khí vận chuyển xung quanh lục hư, ỏ dưới đất thì sinh ra vạn vật. Tròi không có nó thì không có gì cho đất, đất không có nó thì không có gì để thua. Sinh khí ẩn trong lòng đất nhìn không thấy, chỉ mỗi cách phải theo cái lý của đất mà tìm.
Nếu biết được sinh khí ở chỗ nào, thì sau khi táng ở đó, bộ xương khô sẽ nhận được sinh khí, tất sẽ hưởng phước. Hài cốt cha mẹ là gốc của con cháu, hình thể của con cháu là cành nhánh của cây cha mẹ, gốc và cành tương ứng, được chỗ đất lành thì thần linh yên ổn, con cháu thịnh vượng, như vậy gọi là “khí cảm nhận mà ứng phước cho người”.

Lấy tiên thiên Bát Quái của Phục Hi phốỉ hợp âm dương, lấy hậu thiên Bát Quái của Văn Vương để sắp hào tượng. Lấy nội tứ quái làm trời, đất, mặt trời, mặt trăng, lấy 64 quái (quẻ 1 làm âm dương khí hậu. Lấy các Quái phôi thành lục thập hoa giáp (một hội 60 năm), rồi nạp ngũ hành, rút ra vượng tướng, lấy vượng tưóng hợp với quái khí, vậy là có thể đoán biết vạn vật. Chỉ cần xử lý thỏa đáng khí, tiếp nhận sinh khí, loại bỏ sát khí, tiêu nạp không chế, biện giải thần tình, là có thể dạt được mục đích của tưóng địa (xem đất lấy huyệt). Trên thực tế: “thuyết lý khf’ rất mông lung, ai nhìn thấy được khí?
Ngoài ra còn có thuyết vọng khí, Hoàng Diệu ứng đời Tống, trong “Bác Sơn thiên”, viết: “Là Minh Đường (bãi phẳng trước cửa, hoặc cổng huyệt), phải biết đường khí. Một quần trắng là tốt, năm quần trắng là tốt, sáu quần trắng là tốt, tám quần vàng là tốt, chín quần tía là tốt, gọi năm tốt là như vậy. Lại có bốn xấu, hai quần đen là xấu, ba màu ngọc bích là xấu, bốn quần màu lục là xấu, bảy quần đỏ là xấu”.
Liêu Hi Ung trong “Kinh táng dục có thiên “vọng khí”, viết “Phàm là núi có khí màu tía như cái nắp úp lên, khói xanh lơ lửng, mây vờn cuồn cuộn, bốn mùa không lúc nào quang, sườn núi không bị lở, những chỗ trũng thì màu nước xanh ngắt, cây cốì rậm rạp, suối phun mạch mà nước thì ngọt, đất thơm mà tốt, đá nhẵn nhụi và sáng, nếu có những hiện tượng ấy thì khí tập trung mà không bao giờ dứt. Nếu nơi mà khí mây không bay lên, nước ỏ khe vùng thì đụt lờ, sườn núi lở lối, đá khô đất cằn, cây cỏ vàng úa, khe SUÔI cạn nước, nếu có những hiện tượng ấy, nếu không vì đào bới mà tuyệt long mạch của núi, thì nơi đó chắc chắn không có sinh khí”. Theo thuật Phong Thủy, vọng khí có thể biết sự thay đổi triều đại, sự thay đổi nhân sự chốn quan trường và sự thành bại của gia nghiệp.