Thuật phong thủy trên thế giới

Địa lý toàn thư

THUẬT phong thủy TRÊN THẾ GIỚI
Từ thượng cổ, khi nhân loại còn man khai các dân tộc Chaldéo, Assyrie, Copte (cổ Ai Cập) Hy Lạp, La Mã và đến nay tại Phi Châu, Nam Mỹ, Bắc Âu, Trung Đông lắm nơi còn dùng khoa địa bốc khác hẳn môn Địa Lý Phong Thủy của Đông Phương. Khi định cất nhà hay lấy huyệt mả, gia chủ hay tang chủ tự tay lấy ở đó hai nắm đất, một trên mặt, một dưới sâu, trộn đều rồi trải lên mặt bàn, địa bốc sư sẽ căn cứ vào những đường nét hình thù ngẫu nhiên thành để đoán biết nơi đó tết hay xấu cho việc xây dựng hay an táng.
Các thổ dân Tretares, Kirghizs, Kalmouks chịu ảnh hưởng sâu xa văn hóa Mông cổ cũng biết Phong thủy nhưng giản dị hơn, họ coi phương hướng, chiều gió để làm nhà. Họ tránh hướng Tây vì tin hưóng có bệnh tật, chết chóc, kiêng hưống có gió nhiều vì sợ ma quỷ sẽ nương theo gió để quấy phá.
Họ chôn người quá cô” đầu quay về hướng đông vì mặt trời mọc linh ứng trấn quỷ trừ ma hoặc chôn gần bên bờ sông dòng suôi để linh hồn được “mát mẻ” phiêu diêu.
Quan tâm đến phong thủy địa lý người Đông Phương nhất là Trung Hoa tin tưởng có sự tương quan, ảnh hưởng mật thiết đến đời sông con người hơn cả áo cơm. Do đó có câu: “sông vì mồ mả, không ai sông vì cả chén cơm”.
Địa lý là bí khoa căn cứ vào dịch lý Âm Dương ngũ hành, nên cần phải dày công nghiên cứu khảo nghiệm mối mong lãnh hội, thủ đắc là môn học thuật hầu dành riêng cho giới tri thức có đủ kiến năng quán triệt, chuyên luyện, do đó những người thông bác xưa thường tinh rành đủ nho, y, lý, sô”.
Các nhà Địa lý xưa giải thích hiện tượng “mả kết” không nhất thiết là do kiểu rất đẹp có hình tứ linh (Long, Lân, Quy, Phụng) hoặc lý ngư, kim kê, long mã, ấn, kiếm, bút nghiên, v.v… mà chính do long mạch đi hết độ mà đúng tầm của nó dừng lại tú khí tụ hết nhờ hội đủ những yếu tô” Phong thủy hợp cách hài hòa mới kết phát được…
Các dân tộc thiểu sô” ở Mi-an-ma cũng có những kiêng như dân tộc San không dùng gỗ trôi sông để làm nhà, cũng không dùng gỗ còn thừa của người đã chết để làm nhà. Khi chọn đất làm nhà, họ vốc một nắm bắp xếp thành đống nhỏ ỏ mặt đất, hôm sau đếm nếu số chẵn thì tốt, lẻ thì xấu.
Kịch truyền hình nhiều tập của Xingapo “Biên Thiên” có cảnh nhà Phong Thủy người mảnh mai, biết xem tướng, xem Phong thủy, trong tay lúc nào cũng có bàn to bằng miệng chén. Đôn đảo khắp nơi giúp đõ mọi người.
* THUẬT PHONG THỦY TẠI TRUNG QUỐC
■ Trung Quốc với thuật phong thủy xưa và nay
Nghĩa gốc của Kham Dư là trời đất, Kham là trời, Dư là đất Trong “Văn tuyển – Cam tuyền phú chú”, Hoài Nam Tử viết: Kham Dư là hành hùng (sống) để biết thư (mái), Hứa Thuận nói: “Kham là thiên đạo (đạo trời). Dư là địa đạo (đạo đất) “Sở ký – Tam vương thế gia sách ẩn” viết: Gọi đất là Dư, trời đất có cái đất bao trùm (phức cái). Do đó gọi trời là “Cái”, gọi đất là “Dư”. Chu Tuấn Thanh người đời Thanh viết trong “Thuyết văn thông huấn định thanh”: “Cái kham ở trên cao, Dư ở dưối thấp, nghĩa là tròi cao đất thấp”.
Kham ngoài nghĩa là trời, còn có hai nghĩa nữa. Một nghĩa là đột (xuyên). “Thuyết văn – bộ thổ” viết: “Kham nghĩa là đất nhô cao, bộ Thổ, âm thậm”. Đột nghĩa là xuyên hoặc nghĩa là chỗ lõi gọi là địa hãm (chỗ đất trũng). Hai nghĩa là Kham, xem xét (điều tra cơ bản trên thực tế đất đai) hai từ này đồng nghĩa.
Dư, từng mượn chữ Dư (thừa) để viết: “Tùy thư – Kinh tịch chi” phần ba “Bộ tí, ngũ hành loại” chép “Kham Dư (lịch chú) Địa tiết Kham Dư (thừa). Đây thực tế là sách lịch.
“Hán chi” có chép “Kham Dư Km Qui” mười bốn quyển (thất truyền). Long Xuyên tư khôn khảo chứng cho rằng: sách nói về phương vị Phong thủy”.
Học giả thời Hán thường bàn luận về Kham Dư, Kham Dư ở đây không hẳn có nghĩa là tròi đất, mà thường là để chỉ quỷ thần. “Hán thư” quyển 87 dẫn “Cam tuyền phủ của Dương Hùng “thuộc tham Dư dĩ bích lũy từ, Tiêu Khai hư nhỉ xí cúc mông” Mạnh Khang chú giải
viết: “Kham Dư là tên thần làm ra Đồ trạch thư”. Kham Dư là vị thần làm ra Đồ trạch thư.
Đồ trạch thư đã thất lạc. Vương Sung đời Hán trong sách “Luận hành • Cáo thực thiên” đã dẫn nguyên văn một đoạn trong Độ trạch thư. Đoạn một: “Thuật đồ trạch thư nói rằng: trạch có tám thuật, lấy danh số lục giáp mà xếp theo thứ tự, thứ tự lập theo tên gọi, cung thương phân biệt rõ ràng. Trạch có ngũ âm, Tính có ngũ thanh. Trạch không hợp vối Tính thì Tính và Trạch chống đối nhau, tất tật bệnh tử vong, phạm tội gặp họa”. Đoạn hai: ‘Thuật đồ trạch nói rằng: cửa nhà buôn không mở về phía Nam, cửa quan không mở về hướng bắc”.
Qua hai đoạn văn trên thấy rất rõ thuật đồ trạch có liên quan đến những cấm kị về nhà ồ trong thuật Phong Thủy mà Kham Dư là thần quái sáng tạo ra thuật Phong thủy.