Thơ văn với thuật phong thủy

Địa lý toàn thư

THƠ VĂN VỚI phong thủy“>thuật phong thủy
Thơ văn cổ điển là tấm gương phản chiếu nền văn hóa truyền thông, qua đó có thể thấy cảnh quan phong thủy. Thuật phong thủy có bốn nguyên tắc cơ bản khi chọn đất một là băng sơn (dựa vào núi) hai là ỷ thủy (kế bên nưóc) ba là bạng sơn ỷ thủy (dựa núi kề nước), bốn là thanh sơn thủy nhiễu (núi xanh nước chảy quanh).
A. Bạng sơn (Dựa núi)
Núi là cái giá đõ dương trạch, cũng là kho tài nguyên trời cho cuộc sông con người, tổ tiên ta thường tựa vào núi mà xây dựng làng bản, bản đường, nhà thơ Hạng Tư có câu: Mặt tròi giữa trưa trả bóng núi cho núi, thảm cỏ đầy vết bùn của đàn hươu chạy qua. Lý Bạch có câu: sơn tòng nhân diện khỏi, vận bảng mã đấu sinh (núi dựng ngang mặt người, mây sinh bên đậu ngựa). Trong rất nhiều câu thơ, có hai câu của Đào Uyên Minh đòi Đông Hán có thể coi là tuyệt cú. Thái cúc đông li hạ, du nhiên kiến nam sơn (hái hoa cúc ở bờ giậu phía đông, phóng tầm mắt thấy nam sơn) đọc lên khiến người ta tưởng như nhìn thấy bức tranh làng quê tuyệt đẹp, và tưởng như mình đang ở trong cảnh đẹp đó mà hưởng thụ cái thú điền viên.
B. Ỷ thủy (Kề nước)
Nước là nguồn sống của vạn vật, không có nưóc, con người không thể tồn tại. ở gần nưóc là kinh nghiệm mà nhân loại tổng kết về cuộc sông, và cũng là một loại dân tục.
Nhà thơ Mạnh Hạo Nhiên đời Đường có câu “hơi (nước) sôi đầm Vân Mộng, sóng lắc thành Nhạc Dương” đem thành Nhạc Dương đặt giữa đầm Vân Mộng và hồ Động Đình mênh mông, lấy cái to làm nền cho cái nhỏ. Viết nên mốỉ quan hệ giữa nước và thành quách.
Tông Chi Vấn đời Đường có câu: “lâu quan thương hải nhật môn đôi Chiết Giang hồ” (đứng trên lầu ngắm cảnh mặt tròi trên biển xanh, cổng nhà thì đôi diện với hồ Chiết Giang) miêu tả khí thế trùm lên vạn vật và địa hình cực đẹp, văn phong nghiêm chỉnh, cảnh sắc hùng tráng, đáng để suy ngẫm.
Nhà thơ Yến Thị đời Tông cũng có câu: “Hoa lê rụng đầy vườn, màu trắng hòa với ánh nắng, tơ liễu bên hồ phất phơ trưóc gió” Căn nhà quá trang nhã, hoa lê nở rộ, ánh trang như suôi bạc, tơ liễu đong đưa, mặt hồ gỢn sóng, ỏ trong một căn nhà như vậy cũng là một sự hưởng thụ.
c. Bạng sơn ỷ thủy (Dựa núi kề nước)
Người hiểu biết thích núi, người có nhân thích nước, thuật phong thủy thích có núi sông, nhỏ thì nhà ở, to thì thành phố, đều phải xây dựng ở nơi tựa núi kề sông, về chuyện này các nhà thơ đều có những câu thơ đẹp.
Lục Du đời Tống có câu ba vạn dặm chảy về sông, sông ra biển; năm nghìn nhẫn dựng đứng núi chọc trời: đây là lấy bốì cảnh sông Hoàng và Hoa sơn ở miền bắc để khái quát nơi ăn ỏ của mọi người, ca ngợi phong cảnh hùng tráng của non sông tô quốc.
Hoàn cảnh vừa, Đỗ Thẩm đời Đường có câu: núi Sở chắn ngang mặt đất, sông Hán chảy về nơi chân trời đây là đặc tả cảnh đẹp Nhượng Phàn ở Hồ Bắc, núi Mã Yên từ mặt đất vọt dậy cao vút lưng trời sông Hán quanh co uốn khúc chảy về phía chân trời.
Hoàn cảnh nhỏ, Đỗ Phủ đòi Đường có câu “cửa sổ đóng khuôn lấy Tây Unh quanh năm tuyết phủ, đỗ ở cổng ngoài là thuyền đi Đông Ngô xa vạn dặm” đây là miêu tả phong cảnh bên ngoài thảo đường, xa xa là tuyết, nơi gần là thuyền, tuyết là tuyết lưu cữu hàng ngàn năm, thuyền là thuyền đi vạn dặm, thể hiện môi quan hệ có quyền dịch gần xa.
Hoàn cảnh không giông nhau về phạm vi ấy, là bức tranh sinh động về minh đường.
D. Sơn thanh thủy nhiễu (núi xanh sông uốn khúc)
Núi muôn có màu xanh thì cây cỏ phải tươi tốt, sông muôn uôn khúc phải chảy quanh nơi ở.
Lý Bạch đời Đường có câu “núi biếc chắn ngang phía bắc của quách (thành ngoài) sông trong chảy vào phía đông thành” đây là miêu tả cảnh quan vùng thành tuyến (tuyên thành) ở An Huy. Dãy núi nằm ngang xanh biếc án ngữ phía bắc thành ngoài. Dòng sông trong vắt uốh lượn ồ phía đông ngôi thành có, núi sông có tình khiến người lưu luyến!
Liễu Tông Nguyên có câu: lớp lớp cây rừng che khuất tầm mắt nhìn đi nghìn dặm, dòng sông uốn lượn như chín khúc một, núi trùng điệp từng lớp lốp sóng quanh co như hồi tràng.
Vương An Thạch đời Tống có câu: “Một dòng sông đem màu xanh vây lấy đồng ruộng, hai dãy núi đưa màu xanh tới kèm hai bên”. Đây là miêu tả cảnh sắc nông thôn Giang Nam, một dòng sông chảy quanh đồng ruộng, hai ngọn núi như hai cái cổng, đẩy cổng mà vào nhà, gửi gắm tình cảm trong sự vật, thể hiện được phong cảnh thôn xóm đầy sức sống.
Qua thơ văn nói trên, có thể thấy những nguyên tắc cơ bản của chọn đất Phong Thủy được duy trì trong thơ, cảnh quan đẹp cũng chính là nơi người ta ưa chuộng.
* KHẢO CỔ VỚI THUẬT PHONG THỦY
Khảo cổ là hoạt động khai quật các di tích và di vật để nghiên cứu. Nắm vững quan niệm Phong Thủy thì có lợi cho công tác khảo cổ. Qua khảo cổ, lại có thể nghiên cứu sâu về Phong Thủy.
Người xưa có thói quen ở nơi kề núi gần nưóc, quay mặt ra đồng bằng. Căn cứ vào tập tục đó, khảo cổ của ta chọn vùng sơn thủy để tiến hành khai quật như di chỉ Tử Sơn ở huyện Vũ An tỉnh Hà Bắc là nơi tiếp giáp giữa sơn mạch Thái Hàng với đồng bằng Hoa Bắc, trên triền đất ở bên sông nam chiều cao 25 mét so vói lòng sông, diện tích 80.000m2.
Đây là di chi đầu thời kỳ đổ dá mới dưọc đầu tiên ở Hoa Bắc. Lại như Bùi Lý Cương – di chỉ đầu thời kỳ đồ đá mói được phát hiện ỏ huyện Tân Trinh tỉnh Hà Nam, nằm ở vùng ven phía tây đồng bằng Hoa Bắc, trên một ngọn đồi hơi xa khúc ngoặt của Song Tự, cao 25 mét so với lòng sông, diện tích 20.000m2. Di chỉ văn hóa Ngưỡng Thiều là triền đất nơi giao hội của hai dòng sông. Di chỉ Bán Pha ở Tây An là nằm trên triền đất cấp hai của con sông sản. Ngoài ra, các nhà khảo cổ còn phát hiện được di tích thành cổ Hậu đời Tấn ở khoảng giữa hai con sông Phần và sông Hội. Đã phát hiện thành cổ Trịnh Hàn nơi giao hội giữa Trị Hà và Hoàng Thủy Hà. Đã phát hiện di chỉ Hạ Đô triều Yên ồ Dịch Thủy. Đã phát hiện di chỉ Hàm Đan nước Triệu ỏ nơi giao hội của Tấm Hà và Cho Hà. Đã phát hiện kinh đô An ấp của Ngụy ỏ lưu vực Thanh Long Hà. Đã phát hiện thành Kỳ Nam của nước Sở ở khoảng giữa Chu Hà, Long Kiều Hà và Tân Kiều Hà.
* Có thể căn cứ vào quan điểm Phong Thủy đề giải quyết khó khăn trong khảo cổ.
Từ khảo cổ, ta thấy tổ tiên rất tinh vi trong xây dựng nhà. Khi khai quật di chỉ văn hóa Ngưỡng Thiều, phát hiện gần 400 nền nhà, có nền hình tròn nửa chìm nửa nổi, có nền hình tròn trên mặt đất, có nền hình vuông nửa chìm nửa nổi, có nền hình vuông trên mặt đất, có nền vuông các gian nốị tiếp nhau. Các cửa đều hướng Nam, hơi chếch sang hướng Tây.