Tác dụng của dương trạch

Địa lý toàn thư

* TÁC DỤNG CỦA dương trạch
Xem đất nền nhà ỏ miền núi đồi cần phải có mạch, lấy mạch trọng dụng hơn là thủy, ở miền đồng bằng lấy thủy còn trọng hơn mạch. Sự hưng suy của dương trạch là do ở sự lưu hành của khí mạch, được mạch to, thế lớn, khí nhiều là điểm đất lớn, hưởng phước lộc lâu dài ngàn năm chưa nghỉ. Nếu có một lần sa, một lần thủy, mà khí mạch nhỏ thì hưởng phước độ (60) năm, hoặc trăm năm thôi. Sự tác dụng phải lấy mạch khí làm bản (thể), lấy sa, thủy làm dụng, cả khí và cục đều hoàn toàn mới là phước địa.
Có cục mà không có khí thì nhân đinh không vượng tiền, có khí mà không cục thì tiền tài khó giữ (cục là 8 cung) quẻ lấy thiên can phối hợp vói ngũ hành thành tứ đại cục là kim cục, mộc cục, thủy cục, hỏa cục. Mạch, hướng hợp với cục, mà thủy khẩu đắc vị là cát địa, thì được thịnh vượng. Nếu long thần phân ra chi cước (như tay chân) mà hiểm đất ỏ chật hẹp đào xẻ, mở rộng thêm thì bị đoạn thương long mạch sẽ sinh ra tai họa. Những người lấp giếng, ao lạch để dựng nhà cửa, thì khó mà giữ được ở lâu dài. Nếu muốn đặt ông cống để tiêu nước đi, cũng phải chọn lựa phương nào hợp phép mới được an cư, đằng trưóc hoặc ở đằng sau nhà có chỗ cao chỗ thấp, không được làm càn ra chỗ khác, phải theo chiều thủy phóng hợp lý.
* ĐẤT KINH ĐÔ ĐẾ VƯƠNG
Sách Luận hành chép: Trên trời cổ mặt tròi mặt trăng và tinh tú gọi đó là văn. Dưói núi có núi, sông, gò, hốc gọi là lý. Địa lý ứng với thiên văn ở trên cho nên các bậc đế vương dựng kinh đô ở dưới núi có danh tiếng, hay ở ven sông lớn.
Ngạn ngữ nói: Âm dương sinh thực khí. Tôn Văn Bá đời Tống nói: “Phàm mạch đất ở nơi đô hội đều có âm dương”. Gia Cát Vũ hầu nói: Đất Kim lăng về địa hình có núi Chung Sơn như rồng khoanh quấn, lại có núi Thạch Thành như con cọp ngồi. Đúng là kinh đô của bậc đế vương.
Vua Thành thang nưốc Sở biết đất ấy có khí đế vương, chôn vàng để trấn áp, nên gọi là Kim Lăng, về sau Thái Tổ nhà Minh nghe lời Lưu Bá Ôn, xây thành ỏ Kim Lăng đón được vượng khí, bèn lấy được thiên hạ.
Kinh dịch chép: “Cùng cực rồi thì biến. Biến thì thông. Vận trời có lúc bĩ, lúc thái bất thường. Khí đất có khi suy khi vượng bất thưòng. Việc người có lúc phế lúc hưng. Ba điều ấy chưa từng không quan hệ lẫn nhau”.
Nhà Chu từ vua Bình vương đóng đô ỏ Lạc ấp trải qua hơn 500 năm thì tinh hoa cũng kiệt. Nhà Tần từ vua Mục Công trở về trước không được liệt vào hàng các nước ở Trưng Hoa. Khí đất thu tàn đã lâu thì bộc phát lên, cho nên đến đời vua Hiếu Tông trở về sau thì lấy được thiên hạ. Tuy chỉ truyền được hai đời nhưng vượng khí đang lúc thịnh, cho nên vua Cao Tổ nhà Hán cũng đóng đô ở đấy.
Còn Quang Trung từ niên hiệu Cảnh Thủy trở về sau thì rất tàn tệ, đến đời Diệu Hưng tuột xuống hàng thứ ấp. Khi tàn rồi lại hun đúc cho nên Vũ Văn Chu dùng Quang Trung mà thâu được Cao Tề. Nhà Tùy nối theo, thống nhất thiên hạ. Vua Cao Tổ nhà Đường đóng đô ở phưóc tộ đến 300 năm, được trung hưng đến ba lần.
Rồi Biện Kinh bắt đầu hưng phát. Đến đời vua Thái  Tổ nhà Tông, đóng đô ở đó mà thông nhất được thiên hạ. Sau 200 năm, vượng khí bắt đầu dứt, sao trên trời không chiếu, mạch đất lại hết, cuối cùng phải chịu thảm cảnh ở Bắc Viên.
Đến đời vua Văn Tông nhà Nguyên lại nhận thấy rồng ẩn ở Kim Lăng mới đổi tên Kiến Nghiệp thành Tập Khánh. Làm Đình Chung Anh để đón lấy tú khí ỏ núi Chung Sơn. Nhưng chỉ được 20 năm thì vua Cao Hoàng nhà Minh đã đóng đô ỏ đó…
Sách Hoàn Vũ Ký chép ở Quỷ Môn Quan bên Giao Chỉ, có hai hòn đá đối xứng nhau. Mã Viện đi đánh rợ Lâm ấp có dựng bia và yểm bùa ở đó. Lại nói: “Đời nhà Tấn, đi qua Giao Chỉ phải qua Quỷ Môn Quan (ải Chi Lăng). Phía Nam Quỷ Môn Quan có rất nhiều chướng khí, nên có câu ngạn ngữ “Quỷ Môn Quan, Thập nhân khứ, Cửu bất hoàn” (Cửu Quỷ Môn, mười người đi chín chẳng về).
Sử cũ chép rằng Mã Viện nhận thấy đất Giao Chỉ có nhiều long mạch, vượng khí dồi dào, báo hiệu sự xuất hiện của các bậc đế vương nên sau khi dẹp xong Trưng Vương cho dựng cột đồng làm ranh giói đất nhà Hán, rồi yểm bùa, triệt long mạch. Lại nói: Cột đồng có ghi “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt”.
Đến đời nhà Đường, Cao Biền được cử làm Tiết lộ sứ nước Tỉnh Hải (An Nam), thấy đất Giao Châu hay phát đế vương nên thường cỡi diều giấy đi yểm đất, phá những cảnh đẹp, làm hại nhiều long mạch.
Quách Đại Quân trong sách Quảng Đông Tân Ngữ chép: “Ta xem núi non ở Giao Chỉ, long mạch phát xuất từ Quý Châu mà Quý Châu là phần dư thừa của các con sông. Núi non từ đất Ba Thục kéo tới. Long mạch chạy qua như sóng cuộn muôn đợt, luốt tuôn không dừng thẳng đến Giao Châu, sau mới kết thành nưốc ấy”.
Có lẽ vì vậy mà năm 1.010 vua Lý Thái Tổ ròi đô về Long Biên, đến đó thấy rồng vàng xuất hiện ở thuyền ngư, nhân đó đổi tên Đại La Thành ra Thăng Long Thành. Đến 1.028, đời vua Lý Thái Tôn, rồng lại xuất hiện ở điện Càn Nguyên. Đến đòi vua Lý Thái Tông (1049-1054), rồng vàng lại xuất hiện ở gác Đoan Minh.