Sơn thủy theo quan niệm của thuật phong thuỷ

Địa lý toàn thư

Quan hệ giữa núi và nước, “Quảng thị Địa lý chỉ mông” viết như sau: “nước chảy theo núi, núi ngăn, nưốc dừng chỗ ngăn là vực”
(Nước) bị chặn lại thì muôn vượt do vậy mà khí tụ lại. Nước mà không có núi thì nưóc tản mát, không phụ giúp được gì. Núi không có nước thì hàn mà không có nghĩa. Núi như quân lính, nước như vực sâu, nơi đóng quân mà không có thành trì không thành doanh trại, núi như nhà, nước như tường, ở nhà cao mà không có tường thì lấy gì phòng giữ.
Núi như vua, nước như bề tôi. Vua tôi hòa hợp, phong hóa mới thuần. Núi như chủ nhà, nước như khách khứa, chủ nhà và khách ung dung, thì tình ý càng thân. Núi là thực khí, nước là hư khí. Đất càng cao thì khí càng đầy. Nước càng sâu thì khí càng lớn. Đất mỏng thì khí nhỏ, nước nóng tất khí yếu.
Nhưng nước không thể tự mình làm cho nông sâu, khí cấp mà không ngưng lại, thì đúng là do núi gây ra. Núi không thể tự mình khai thác, để đường khí thông suốt mà khỏi bị tắc, là do. nước không làm đủ đầy.”
Như vậy có nghĩa là núi và nước dựa vào nhau mà tồn tại, không thể bỏ qua núi mà lấy nước, cũng không thể bỏ qua nước mà lấy núi. Núi thuộc nội khí (khí bên trong) như núi đất, như nhà, như vua, như chủ nhà.. Nước thuộc ngoại khí (khí bên ngoài) như thành, như tường, như bề tôi, như khách. Trong ngoài hợp lại thành một chỉnh thể không thể tách rời.

Các nhận thức kể trên đỉều suy diễn từ “khí” mà ra. Người xưa cho rằng, khí là một dạng hình thái của vật chất, khí ngưng tụ thì thành núi, khí tan ra thì thành nước, núi và nưóc đều là khí. Nước vốh có từ núi, núi tận cùng ở nước, núi và nưóc là biểu hiện của “hư” và “thực”, là hình thức tồn tại khác nhau của vật chất.
Những nhận thức trên đây đỉều có ảnh hưỏng đến óc thẩm mỹ của người xưa, có núi mà không có nưóc, có nước mà không có núi đều không đẹp. Thế núi hùng vĩ, thế nưóc quanh co là vẽ đẹp của thiên nhiên, khác đi thì không đẹp.
* DƯƠNG Cơ (TỔNG LUẬN)
Dương cơ là vấn đề vô cùng trọng đại, lớn thì quốc gia, vừa thì thành thị hương thôn, nhỏ thì bình dân bá tánh (trăm họ), đều phải cần đến nó. Dương trạch lớn nhỏ khác hẳn nhau, nhưng niềm báo cát hung họa phước và khi ứng nghiệm thì hoàn toàn giôhg nhau. Thông thường mà nói, Long mạch phải dài, huyệt vì phải thoáng rộng, thủy lưu phải uốh lượn vòng vèo và giao hội đầy đủ, hộ xa phải cân xứng vói nhau, nhìn từ xa như đang triều bái huyệt. Chọn Dương Trạch mộ địa nhất định phải chọn nơi núi lón, sông lốn giao hội. Địa phương tốt nhất có thể trở thành kinh đô, tỉnh thành, tốt vừa sẽ thành quận, phủ, kém một chút có thể thành huyện lỵ, dưới nữa là thôn xóm. Cơ thỉ (cơ sở nền tảng, vị trí) rất khác nhau, biểu thị ai tốt ai kém. Liêu công viết: “Sơn Thủy của nơi xây dựng đô thành nhất định phải thuộc loại trung bình, sơn thủy trung bình tụ hợp lại mới. là nơi có thể kiến lập thành thị. Lăng mộ, nhà ỏ phải thuộc loại sơn thủy dưối trung bình một chút. Sự tiêu trưởng đầy đặn mới thắng được thần công tạo hóa, mói có vận khí tốt”.

1. Dương cơ long huyệt sa thủy
Ta quan sát Long mạch của Dương Cơ, thấy nó xuất thân từ tổ sơn lên xuống nhấp nhô, chi cước (chân tay) uốn lượn như ôm còng lấy đầu… hình dáng cũng không khác gì mấy so với các cục của âm địa. Chỉ khác nhau ỏ dài ngắn, xa gần mà thôi.
“Kinh” viết: “Muốn biết cư trú ở nơi nào mới tốt, mới là cao quý thì phải tìm nơi núi vòng trở lại, thủy bao quanh chứa đầy sinh khí. Nếu bỗng dưng ngọn núi nghiêng lệch, hướng ra phía khác mà đi, thì nơi đó chẳng có gì tốt”. Nếu hai dãy hộ sa (núi bảo vệ) chắp tay vái nhau, hộ vệ huyệt cơ nghiêm trang đoan chính, không có tường phản cốc thì huyệt vị đó dù không lớn cũng có thể cư trú rất bình an, cát tường, trong vòng 100 năm, gia nghiệp ngày một hưng vượng.
Liêu Công nói: “Nhà ở trên can Long có hai loại xa và gần. Can Long ngàn dặm khả dĩ làm thành địa chỉ cư trí của đại quận.
2. Bình dương cơ
Nơi bình nguyên, nhìn thấy giới hạn, nhất định phải tìm nơi Long mạch lai khứ (đi và đến) làm chỗ kết huyệt. Chỗ có vị trí cao hơn xung quanh một chút, chắc chắn là nơi có chân Long. Nếu bảo vùng chỗ nào cũng bằng phòng hoặc cao thấp ngang nhau, thế thì địa thế chỗ nào cũng cao hơn một tấc, cũng là chân Long. Chỗ Hà Thủy không chảy qua là cốt mạch của Long. Địa thế ở chỗ nào đột nhiên lên xuống nhấp nhô, thì đó chính là thế di của Long trên bình địa, cây cỏ hơi lộ và dàn trải.
Có khi gặp hồ lón dung nạp rất nhiều thủy lưu, có khi đi sát vào vào sông lớn, kênh lón, ở đây nhất định có hai Long mạch giao hội, nhưng cách sông. Nơi này có thể làm một địa chỉ cư trú lốn (cơ chỉ). Thủy ở đây nhất định gồm nhiều dạng.
“Thái âm kinh” viết: “Đại châu huyệt kinh sư nhất định là bằng phẳng, Long mạch sa Hổ vây nước lại một chỗ làm thành thủy trì (ao, hồ), nhà cửa thành thị lập cơ địa ở chỗ cao. Không thể nói hình dạng lõm là nơi tốt nhất”.
Nguyệt thiền sư nói: “Ân giấu tung tích hoàn toàn là không hay. Long mạch xuyên ngầm dưới ruộng, qua sông đột ngột nhô lên ở bình địa, đã không có Thanh Long, Bạch hổ hộ vệ cũng chẳng có gì hộ vệ ở xung quanh, thì rất khó phát hiện chân Long ở chỗ nào. Nơi đây có tình nhất chính là thủy”. Dương công cũng nói: “Khi tói vùng bình nguyên, chớ có hỏi chân Long ở chỗ nào, chỉ còn nhìn thấy chỗ nào có thủy vây quanh, thì nơi ấy chính là chân Long”.

3. Sơn cốc dương cơ
Phàm Dương cơ của sơn cốc, phải để nó tọa lạc ở nơi bình viên, bằng phẳng và rộng rãi, tứ bề có Sa sơn châu vào hộ vệ, ỏ giữa không có chỗ lõm hãm rộng; bên dưới nên có giếng nưóc, Minh Đường phải thoáng đãng, cư trú ở nơi gần sông là tốt nhất, nếu muôn đặt huyệt cơ ỏ trong sơn cốc, cũng có thể tìm chỗ nào bằng phẳng, nhưng không quá hẹp, vì chỗ nào quá hẹp sẽ không cát lợi.
“Kinh” viết: “Chọn Dương Trạch tối kỵ huyệt vị nhỏ hẹp, huyệt vị nhỏ hẹp chỉ có thể làm âm cơ mộ địa. Tiểu huyệt mà dùng làm Dương cơ, sẽ làm cho khí mạch bị tổn thương. Thông thưòng khi định huyệt vị cho Dương trạch, huyệt vị phải lốn, nơi đó phải bằng phẳng, thoáng đãng. Nếu nhỏ thì nhất quyết bỏ qua không tiếc”.