Nước theo quan niệm của thuật phong thủy

Địa lý toàn thư

Nước là thứ cần thiết cho đời sông con người. “Quản tử – Thủy địa” nói, nưóc là nguồn gốc của vạn vật, là thủy tổ của mọi sinh vật nước đem lại hạnh phúc cho con người, có cái uống, giặt giũ tưới tắm. Nước cũng gây ra tai họa cho mọi người, xói lở đất đai nhà cửa, chìm chết người, súc vật. Con người cảm ơn nước, cũng sỢ nước, gọi nước là thần.
Gọi nưóc là Thủy Bá (Bác nước). “Sơn hải kinh – hải ngoại đông kinh”: “khe tiều Đương gọi thần là Thiên Ngô, chính là Thủy Bá”. Thủy Bá có tám đầu, mặt như mặt người. Gọi nước là thủy mẫu (mẹ nước). Vương bao trong “Cửu hàng tư trung” viết: “Rủa bò chứ, mẹ nước, cùng hẹn ngày chủ, vẽ vang mà về nam.”
Gọi nước là thủy thần (thần nước). “Quản tử – Thủy Địa” lấy từ trời đất mà sinh ra vạn vật, sinh ra vàng đá, nên gọi là thủy thần
Nữ thần sông Lạc tên là Mật Phi, nữ thần Trường Giang tên gọi Giang Phi, nữ thần sông Tương tên gọi Tương Quân, thần Đông Hải tên gọi Ngẫu Hổ, thần Nam Hải tên gọi bất đình hồ Dư, thần Tây hải tên gọi Yểm Tư, thần Bắc Hải tên gọi Huyền Minh. Ngoài ra còn có thần hố, thần suối, thần giếng, thần bầu (ao chuôm lớn).
Nước ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống con người. “Tây Du ký” ghi chép: nữ nhi quốc (nước đàn bà), uống nước Tử Mâu hà (sông mẹ con), sinh toàn con gái, “Sơn Hải kinh” chép: “phía Bắc núi thạch có nhiều động, nước tưổi (cho ruộng đồng) bắt nguồn từ nơi này, chảy vào Ngẫu Thủy, dưới sông có đất gan gà, bôi đất ấy trâu bò không bị ốm đau”. “Bảo Phát tử” chép: huyện Lâm Nguyên có họ Liêu, đời này sang đời khác người trong họ đều sông lâu, sau di cư đi nơi khác, con cháu rất dễ chết yêu.
Người khác dọn đến chỗ cũ của họ Liêu, lại sông lâu. Từ đó có thể thấy, nơi ở có quan hệ tói tuổi thọ của con người, vì sao vậy? Người ta phát hiện nơi họ ở có một cái giếng, nưóc giếng màu hồng. Tát cạn, phát hiện đáy giếng có mấy trăm đầu đơn sa, đơn sa hòa tan vào nước giếng, uống nước giếng ấy con người sông lâu.
Căn cứ vào các hiện tượng trên, thuật phong thủy rất coi trọng nước, gọi sông ngòi là thủy long. Nước có khả năng tụ khí, con người được sinh khí có thể giàu sang.

* THỦY PHÁP
Huyệt tuy ở núi, nhưng họa phưốc thì ở nưóc. Do đó, phép điểm Huyệt là căn cứ vào nưóc để điểm. Núi như vợ, nước như chồng, phụ tòng phu quí. Như Trung Nguyên rộng hàng vạn dặm không có núi mà anh hùng lóp lớp nổi lên; vì sao vậy? Là ở nước.
Vì vậy nói rằng, có núi thì lấy núi để đoán, không có núi thì lấy nước để đoán. Đá là xương cốt của núi, đất là thịt của núi, nước là huyết mạch của núi, cây cỏ là đầu lông của núi, đều do nước mà quán thông. Chỉ dùng thiên can. Không được dùng địa chi, phép xem xét nước là như vậy. Kiến Khôn Cấn Tốn là đại thần, Giáp Canh Bính Nhâm là trung thần, At Tân Đinh Quý là tiểu thần, gọi gộp là tam thần. Dần Thân Tỵ Hợi là đại thần. Tị Ngọ Mẹo Dậu là trung thần. Thìn Tuất Sửu Mùi là tiểu thần. Địa chỉ không xem xét đến tọa hướng, thì phong thủy đến hay đi đều xấu, vậy Thái Tuế chắc chắn gặp tai họa.
Dựa vào Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ để được lành dữ, hoặc vãng lai song hành, can nhiều chi ít, thì tốt một nửa.
Chi nhiều Can ít, rất xấu (đại hung). Can trong, vươn xa, chi đục dòng ngắn, cùng song song chảy đi, thì gọi là hỗn tạp.
Theo phép thì, tám can (bát can) đến, bốn duy (tứ duy) đi là tốt nhất. Nếu như tiểu thần không nhập vào trung thần, trung thần không nhập đại thần thì không tốt. Có đại thần, nhưng bát can thần thì không tốt. Có đại thần, nhưng bát can thủy không đến, chỉ giữ được bình ổn, không phát thì gọi là vô lộc mà quí nhân.
Như thủy thần không khắc chế lẫn nhau, thì không đại phát, vô họa. Dần Thân Tị Hợi thì đất phong thần khiếp sát. Tí Ngọ Mẹo Dậu là đất Đào hoa hàm trì. Thìn Tuất Sửu Mùi là đất mộ khố khôi cương, phép xem nưóc đều kỵ cả ba loại này.