Nước lành nước dữ theo quan niệm của thuật phong thủy

Địa lý toàn thư

Thuật tướng địa xem đất không tưống sơn (xem núi) mà còn phải tướng thủy (xem nước). Tướng thủy thì phải xem xét được sự lành dữ của nưóc.
Nước như thế nào là lành? Nguồn nưóc vương xa thì long khí vương, phát phước lâu dài. Nguồn nước ngắn thì phước ngắn. Nước phải nhập đường lại có nơi đón nhận phía dưới, hoặc thủy long phù trợ ngầm, đều là nước lành. Phàm là nước chảy đến, dù quanh co uốn khúc dù chảy ngang rồi quành lại, dù chảy đi tỏ ra vương vấn, dù quay lại có vẻ dừng.
Nếu là nước biển thì sông trào phải cao và sông bạc đầu (có màu trắng) thì là tốt lành. Nếu là sông thì nưóc quanh co uô’n lượn là cát. Nếu là suối, êm đềm, phang lặng. Nếu là hồ đầm, mặt hồ phẳng như gương thì tốt. Con người không được tùy tiện san lấp ao hồ, cũng không được đào hô’ khơi rãnh, vì làm như vậy sẽ tổn thương địa mạch, địa mạch mà bị thương thì được không thể lành.
Nước như thế nào là xấu? Phàm là nưóc chảy đến mà xông thẳng như tên bắn, chảy xiết tháo réo ào ào, hoặc chảy dựng lên như cánh cung bị lật, thì đều không tốt. Nếu nưốc không có tình, chảy đến mà không nhập đường, thì có nưóc cũng như không. Nếu nhìn bằng mắt không thấy nước nhưng giẫm lên thì ưót đế giày hoặc đào hô’ thì có.
Nước chảy ra, nhưng đến thu, đông thì khô hạn, như vậy là mạnh yếu vào tản mát, không tốt. Nếu như là nước bùn, gặp mưa thì nổi lên, trời lạnh thì khô kiệt, như vậy là địa mạch rò rì, cũng không tốt.
Nước ở chỗ nào cũng có hên quan đến sự đánh giá về nước. “Thủy long kinh” viết: “Bờ phía đông nưóc sâu trăm mét, thì phía tây (màu mỡ) chưa ngàn bộc lương”. Phía Tây Bắc có “Ao hồ kê’ bên mồ mả, con cháu bất hiếu phải kêu trời”. “Trưóc nhà có rãnh đi ngang, chân đau khó chữa khỏi”. “Núi trước nhà như cái môi bằng gỗ thì con dâu ôm chân bô’ chồng (ý nói loạn luân)”.
Thuật phong thủy cho rằng nước có hên quan đến sự lành dữ của con người. Như nưốc xú uể, chủ đàn bà bẵng lậu, đàn ông bị bệnh tri, nhà cửa sa sút. Thiên ứng thủy, chủ đại quý. Chân ứng thủy nếu như xuân hạ không tràn, thu đông không cạn, chủ đại phú. Nưóc vây quanh, chủ có lộc lón. Nước SUÔI từ trong núi chảy ra mà có vị ngọt mùi thơm, bôn mùa không đầy không vơi, đông ấm hè mát, chủ Sống lâu. Hoàng Diệu ứng trong “Bắc Sơn thiên – luận thủy”, viết: “Tim long để nhận biết khí, nhận biết khí thì phải nếm nước.
Nước xanh trong màu ngọc bích, vị ngọt, mùi thơm, chủ thượng quý.
Nước màu trắng, vị thanh thì khí kiệt, chủ hạ quý. Còn như nước chua, hoặc có mùi ung thì khỏi bàn”.
* suối theo quan niệm của thuật phong thủy
Phong Thủy coi suối là chỗ ra vào của thủy long, con đường của thủy long vận hành là suối (tuyền mạch). “Thủy kinh chú – hạ thủy” viết: “phía nam tòa thành có thuộc huyện Doãn Nhai nhánh đông sông Hoàng Thủy… Huyện có long tuyền (suôi Rồng) chảy ra từ khe Doãn Nhai, chính giữa mặt suối, nước xoáy thành hai con rồng quấn lấy nhau”. Huyện Động Xung tỉnh Vân Nam có Hắc Long Tuyền (suôi Rồng đen), huyện Tây Trúc có Phong Long Tuyền (suôi Rồng Điên), Phong Long Tuyến còn gọi là Phong Long Đạm (suôi Rồng Điên), khi có lũ nước.
Phong Thủy chia nưốc suôi ra nhiều loại. Cho rằng thang tuyền (tức ôn tuyền, suôi nước nóng) là dưới có lưu huỳnh mà trên mặt lăn tăn nước sôi, mùa Đông thì ấm, mùa Hạ thì mát, chủ phú quý. Khoáng tuyền (suôi nước khoáng) tức Hồng tuyền (suối màu hồng), nước có màu hồng dưới có khoáng sản, tất nhiên sớm muộn sẽ bị đào bới, hủy, hoặc tổn thương long mạch, không nên chôn cất ỏ đây. Lãng tương tuyền (suối lạnh và lẫn các chất khác), vị nhạt, nước đục, mùi tanh – Lại còn chia ra Dũng tuyền (suôi phun) SUÔI thác… phàm là SUÔI nước lạnh buốt dị thường, như cắn như xé, thì đều là suối dữ.
Phong Thủy lấy suối làm huyệt, gọi mộ huyệt bằng suối. Như tuyền Hạ (dưới mộ), Tuyền lộ (con đường đi đến mộ), Tuyền nhưỡng (đất mộ), Hoàng Tuyền (suối vàng, nơi chôn người chết). Mạch giao đời Đường trong “Điếu vong thi”, viết: “Tuyền hạ (dưới mộ), hai rồng không trỗ lại. Tầm vàng yến ngọc (kim tằm ngọc yến) đã tiếu hết”. Nhân dân thường nói “Cửu tuyền chi hạ” (dưới chín suối, tức là dưói mồ) “Hoàng tuyền lộ thượng (trên đường Hoàng tuyền, tức đường đi tới mồ): cách nói như vậy là chịu ảnh hưởng của quan niệm Phong Thủy.
Phong Thủy lại cho rằng, có long mạch thì có suối, có như vậy ngưòi dưới huyệt mới nhận được sinh khí.
Suôi và Sơn mạch quả thật có hên quan với nhau. Sự vận động tạo Sơn của thiên nhiên đã làm nứt vd nham thạch, hình thành các kẽ nứt. Nước mưa hoặc tuyết tan thành nước thấm xuống đất, tích tụ và chảy ngầm trong các kẽ nứt ấy, đó là nưóc suối. Như thành phô’ Phước Châu tỉnh Phước Kiến nằm trên tầng xung tích của núi nham thạch, xung quanh đều là đá hoa cương, do đó nơi nào cũng có suôi nước nóng. Lại như Đài Loan, Vân Nam, Phước Kiến, Quảng Đông, Hà Bắc thường xuyên có động đất, tầng nham thạch bị nứt vỡ đo đó có rất nhiều mắt suôi.
Nhiệt độ của nước suôi có liên quan đến ‘Sơn mạch: phàm là biểu tầng của đất, nưóc chảy qua kẽ nước lên mặt đất, thì nhiệt độ không cao hoặc núi lửa vừa dừng hoạt động, thì nước suôi có nhiệt độ rất cao. Nhưng uống và dùng nước SUÔI hoặc tắm nưốc SUÔI, có ảnh hưởng nhất định đến cơ thể.
Do nước SUÔI chảy ngầm dưới đất, tất nhiên hoà tan các chất khoáng như lưu huỳnh, muôi khoáng có tác dụng chữa bệnh. Ta có thể dẫn ra rất nhiều ví dụ, như vùng núi sữa ở núi Phượng Hoàng, Quảng Tây quanh năm không bao giờ cạn, màu nước trắng như sữa, pha trà để cả tuần lễ, vị trà vẫn không hỏng, lấy nước này ngâm thịt giữ được tươi nguyên. Dưói chân Cửu Phong lãnh xã Phú Khê huyện Vinh Phong, Giang Tây có một vũng suôi chỉ rộng một mét vuông, nước suôi có mùi vị như bia hơi, đủ cả năm vị: chua, cay, đắng, ngọt, mặn, người ta gọi là nưốc ngũ vị. Tại huyện Lục Hà thành phô’ Sán Đầu tỉnh Quảng Đông có một suôi nước khoáng chứa hơn mười nguyên tô’ vi lượng có ích cho cơ thể con người, như Natri, Canxi, và Kali v.v… có thể uôhg, tắm, giặt, ngăm. Tỉnh Phước Kiến phát hiện hơn một ngàn suôi nước khoáng, trong đó có hơn tám trăm suôi có thể chữa bệnh, uống.
* NÚI LỚN theo quan niêm của thuật phong thủy
Núi non trùng điệp là xương sông của đất, đỉnh núi vòi vọi là cột chông tròi. Người xưa cho rằng, núi lớn có chỗ trũng, để phân bô’ khí rất gần trời núi là nơi thần linh trú ngụ. Ý chí của tròi xanh thông qua núi lớn mà truyền đạt cho con ngưòi.
Truyền rằng, cuôl thòi kỳ xã hội nguyên thủy, người xưa đã tê’ núi thòi Ngu Thuần “bái vọng núi sông, khắp nơi tê’ xã”. Sau khi chuyển sang xã hội có giai cấp, núi lốn càng được thân hóa. “Lễ ký – Tế Pháp” viết: “Núi rừng sông khe. Gò đống có thể làm ra mây, gió và mưa, cho nhìn thấy quái vật, cho nên đều gọi là thần.” “Thần núi thì rất nhiều”, chỉ riêng “ngũ tàng sơn kinh” trong “Sơn hải kinh” đã chép gần 400 thần núi. Phương pháp cúng tế có nhiều loại. Hình thức đơn giản nhất là ném gà, dê, heo, ngọc thạch xuống khe núi, hoặc treo trên ngọn cây gọi là “đầu” (ném), “huyền” (treo). Hình thức rườm rà nhất là nhà vua cùng quần thần văn võ, chọn ngày tốt, cử hành nghi thức trọng thể.
Thưòng được cúng tế là Ngũ Nhạc, có Trung Nhạc Cao Sơn, Đông Nhạc Thái Sơn, Tây Nhạc Hoa Sơn, Nam Nhạc Hoàng Sơn, Bắc Nhạc Hàng Sơn. Năm dãy núi này phân bố trên những địa vực khác nhau, hình thể núi cũng không giông nhau. Hằng Sơn như đang đi, Thái Sơn như đang ngồi, Hoa Sơn như đang đứng, Cao Sơn như đang nằm, Hoàng Sơn như đang bay.
Trong ngũ nhạc thì Thái Sơn được tôn kính hơn cả. “Sử Ký – Phong Thiện Thu” chép lời Quản Trong: “Thái Sơn được tôn vinh đến như vậy vì nằm trên bình nguyên Tề, Lỗ văn hóa phát triển, phía Đông giáp biển, vì vậy càng cao vòi vọi, người xưa coi Thái Sơn là anh cả của Ngũ Nhạc, trấn giữ trời đất. Khổng Tử thường nói: “Trèo lên Thái Sơn mói thấy nước Lỗ là nhỏ”, các hoàng đế, như Tần Thủy Hoàng đều đến Tế Thái Sơn, trên núi có Nhạc Miếu. Đó là nơi các đế Vương đến làm lễ phong thiẹn và nghỉ lại mỗi khi đến tế lễ.