Nhà ở dân gian qua các thời đại quân chủ tại Việt Nam

Địa lý toàn thư

Từ thời đại đồ đá tiến sang thời đại đồ đồng, tổ tiên xa xưa của chúng ta đã ròi bỏ hang động miền núi để tiến ra miền trung du và đồng bằng, quần tụ theo từng cụm ở các đỉnh gò, sưòn đồi, chân núi và đội đất.
Do sinh tụ giữa tròi nên việc dựng nhà trỏ thành nhu cầu bức thiết. Trải qua một quá trình dài thực nghiệm và cải tiến, đến giai đoạn văn hóa Đông Sơn, mô hình ngôi nhà đã hoàn chỉnh và khá phong phú, mà hình ảnh cụ thể của nó còn được khắc trên một sô” trống đồng Đông Sơn. Và dấu vết vật chất của nó cũng tìm thấy ở di chỉ Đông Sơn (Thanh Hóa) là những đóng tre, những mảnh phên và đặc biệt là những cột nhà bằng gỗ dài đến 4-5 mét có lỗ mộng (để bắt sàn) cách chân cột 1,25 mét. Đó là những ngôi nhà ở trên sàn, không có tường, mái cong võng hình thuyền và chạy xuống sát sàn, kiêm luôn chức năng vếch che, hai đầu mái phía trên uốn cong cuộn lại và nhô ra xa, trên nóc mái là có một hoặc hai con chim đậu.
Cạnh nhà ỏ còn nhà kho cũng ỏ trên sàn, mái cong vòng lên hình muôi thuyền, hai sưòn mái rất dày. Những mẫu hình nhà này đều mang dáng dấp con thuyền, tĩnh mà rất động, thon thả mà chắc chắn, thích nghi với khí hậu nắng nóng và mưa to, hợp với khung cảnh thiên nhiên còn nhiều ngòi lạch chằng chịt mà hằng năm vào mùa mưa nước dâng lên ngập trắng cả vùng.
Để dựng lên những ngôi nhà sàn này, cư dân Đông Sơn dùng ngay vật liệu sẵn có trong vùng là tranh, tre, gỗ với cấu trúc khung cột – kèo – sà, toàn bộ sức nặng dồn vào các cột để chuyển xuống đất, mặt ngoài có một số môtíp trang trí hình chim, gà ở độ vừa phải không lạm dụng, đủ để làm duyên. Ngôi nhà sàn Đông sơn võng nóc hình thuyền này còn đựợc thấy ỏ các dạng hình thuyền khác của người Đai Ăc (Dayale) và người Tôratrgia (Toradja) trên quần đảo Inđônêxia. Biến dạng một chút ngôi nhà sàn Đông Sơn để có nóc thẳng, còn được thấy ỏ một sô’ dạng nhà ở khác hoặc nhà mồ của một bộ phận thổ dân trên quần đảo Indonexia, thấy được cả ỏ nhà của người Ê-đê trên Tây nguyên… chứng tỏ giữa các khối cư dân này có một mối liên hệ mật thiết, riêng ở kiến trúc có một sự “bảo thủ” day dẳn, để qua đó (không hề khiên cưỡng) thấy cả khung cảnh Đông Nam Á của văn hóa Đông Sơn. 

Nhà ở dân gian qua các thời đại quân chủ tại Việt Nam 1

Do cách “kiến trúc Đông Sơn” đã hoàn chỉnh, nên sau đó cuộc tiếp xúc hơn ngàn năm văn hóa Hán, mặc dù bị cưõng bức, kiến trúc Việt Nam vẫn còn được dân gian duy trì với bản sắc dân tộc độc đáo, mà đến kỷ nguyên tự chủ sẽ phát triển mạnh mẽ. Trong tình hình tư liệu kiến trúc thời Bắc thuộc còn rất nghèo nàn, việc Thái Thú Tôn Tú bắt hơn 1000 thợ thủ công ở Giao Chỉ đưa về Bắc dâng cho vua Ngô để góp vào việc xây dựng kinh đô Kiến Nghiệp, chứng tỏ rằng trong dân gian Giao Chỉ lúc này có nhiều thợ xây dựng nhà cửa giỏi.
Cũng trong thời kỳ Bắc thuộc, Phật giáo được nhân dân ta tiếp nhận và tin theo, nên nhiều chùa tháp được xây dựng, tuy nhiên ngày nay cũng không còn dấu vết vật chất nào. Còn nhà của nhân dân, đương nhiên vẫn được phát triển, với sự kiềm hãm và bóc lột nặng nề của phong kiến ngoại xâm, chắc chắn rất đơn sơ.
Dù sao, với tình hình thợ thủ công có tay nghề cao với sự xây cất nhà cửa, đền và chùa mà sử dụng còn khẳng định kiến trúc dân gian dưới thời Bắc thuộc chắc chắn giữ được sự phát triển tiềm tiến, chậm nhưng là cơ sở để khi đất nước độc lập sẽ phát huy.
Ở buổi đầu thời Lý, trong khí thế đi lên của nhà nước Đại Việt đời sống nhân dân ổn định liên tục nhiều năm được mùa, cùng với việc xây dựng của nhà nưốc, thì việc xây dựng của nhân dân cũng được đẩy mạnh. Từ nhà tranh tre mọi ngưòi còn muôn có ngôi nhà ngói mới khang trang hơn.

Tình hình kiến trúc này cũng phù hợp với tình hình xã hội từ cuối thời Lý cả về kinh tế và chính trị đều không ổn định. Nhà Trần vẫn duy trì tình trạng trên, nên cuối thế kỷ XIII xứ nhà Nguyên là Trần Phu (tức Trần Cương Trung) sang ta thấy trong dân dã hầu hết là nhà tranh đã ghi lại trong sách “An Nam tức sự”: “Làm nhà không có kiểu gấp mái hoặc chống kèo, mà mái nhà từ đòn dong (nóc) đến giọt tranh cứ thẳng tuột một mạch như đổ thẳng xuống.