Ngũ hành nạp âm tương khắc

Địa lý toàn thư

Theo chánh Ngũ Hành, Earn khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim. Mỗi lần thấy khác là luôn luôn có tai hại.
Theo Ngũ Hành Nạp Âm, có khi hành này khác hành kia không phải là xấu, lại nhờ khắc đó mà ra tốt. Chó không phải mỗi lần khắc là xấu cả.
Thỉnh thoảng xem 5 bài thơ sau đây, mỗi bài thuộc về một hành.
■ Hành Kim
Sa trung, Kiếm phong lưỡng ban cầm Nhược cư Chấn đìa tiện tương xâm Ngoại hữu tứ Kim tu kị hỏa,
Kiếm sa vô hỏa, bất thành hình.
Nghĩa:
Hai thứ Ngũ Hành Nạp âm, là: Sa Trung Kim và Kiếm Phong Kim, nếu gặp Mộc thì nó khắc ngay.
Ngoài ra bôn thứ Kim khác là Hải Trung Kim, Bạch Lạp Kim, Kim Bạc Kim, Xoa Xuyến Kim, đều là kị Hỏa.
Còn Kiếm Phong Kim và Sa Trung Kim chẳng những không kị Hỏa mà còn phải nhờ Hỏa mối nên hình
(thành món khí cụ). Nhưng nếu can chi gặp xung khắc địa xung (ví dụ: Nhâm Thân, Quý Dậu là Kiếm Phong Kim gặp Bính Dần, Đinh Mẹo là Lư Trung Hỏa) thì phải tránh là tốt hơn.
■ Hành Hỏa
Phú đăng, Lư Hỏa, Kỷ sơn đầu.
Tom gia nguyên lý phạ Thủy lưu Ngoại bửu tam ban bất phạ Thủy Nhứt sanh y lộc, cận vương hầu.
Nghĩa: ba thứ Hỏa là: Phú đăng hỏa, Lư Trung Hỏa, Sơn Đầu Hỏa đều sợ Thủy khắc.
Ngoài ra, còn có ba thứ khác là: Thiên Thượng Hỏa, Thích Lịch Hỏa, Sơn Hạ Hỏa, lại không sợ Thủy.
Trái lại, nếu có Thủy khắc, thì các mạng đó sẽ được một đời y lộc đầy đủ gần bực vương hầu.
■ Hành Mộc
Tòng bá, Dương liễu, Tang đố Mộc Thạch lựu, Đại lâm kị, Kim đao.
Duy hữu thẫn nhiên Bình địa Mộc,
Vô kim, bất đắc thượng thanh vân.
Nghĩa:
Năm thứ Mộc là: Tòng bá Mộc, Dương liễu Mộc, Tang đô’ Mộc, Thạch lựu Mộc, Đại lâm Mộc đều bị Kim khắc.
Chỉ có một thứ Bình địa Mộc (gỗ), chẳng những không sợ Kim khắc, mà trái iạx, nếu không có nhờ Kim khắc, thì cầu công danh phú quí.
■ Hành Thủy
Thủy kiến: Thiên hà, Đại hải lưu,
Nhị giả bất pha Thổ vi cừu.
Ngoại hữu số ban tu kị Thổ,
Nhút sanh y lộc tấn nan cầu.
Nghĩa: Hai thứ Thủy, là Thiên hà Thủy và Đại hải Thủy, không khi nào sợ Thổ khắc. Nhưng nếu gặp can chi thiên khắc địa xung (Ví dụ: Bính Ngọ, Đinh Mùi là Thiên Hà Thủy gặp Canh Tý, Tân Sửu là Bích Thượng Thổ) thì phải tránh xa là tốt hơn.
Ngoài ra, các thứ Thủy khác là: Gián Hạ Thủy, Tuyền Trung Thủy, Trường Lưu Thủy, Đại Khuê Thủy, đều bị Thổ khắc. Nếu bị Thổ khắc, tất nhiên một đời khó cầu y lộc.
■ Hành Thổ
Thành đầu, Ôc thượng dữ Bích Thượng,
Tam Thổ nguyên lai pha Mộc xung.
Ngoại bitu tam ban bất pha Mộc.
Nhứt sanh thanh quí, bộ Thiềm cung.
Nghĩa:
Ba thứ Thổ, là: Thành đầu Thổ, ốc thượng Thổ và Bích Thượng vôn sợ Mộc xung khắc.
Ngoài ra, có ba thứ Thổ khác, là: Lộ Bàng Thổ, Đại Địch Thổ và Sa Trung Thổ đều không sợ Mộc. Trái lại, nếu có Mộc khắc càng hay, đời người sẽ được thanh khiết, cao sang, vào trường thi là đậu (đăng khoa)
Ở mỗi tờ lịch, dưói can chi của mỗi ngày, có ghi bổn mạng nào bị khắc là xấu, cho người xem lịch để biết mà tránh.
■ Ngũ hành Nạp âm tỉ hòa
Tỉ hòa nghĩa là hai bên ngũ hành cùng chung một loại; khác nào anh em ngang vai cùng vai nhau.
Ví dụ: Mộc, Hỏa vối Hỏa V.V..
Tỉ hòa có tốt cũng có xấu, như Nạp âm trúng tương sanh như nói trên là tốt, thì người ta nói:
Lưỡng Hỏa thành điểm (lửa nóng).
Lưỡng Mộc thành lâm (rừng)
Lưỡng Thuỷ thành xuyên (sông)
Lưỡng Thổ hành Sơn (núi)
Lưỡng Kim thành khí (món đồ dùng).
Đây là nói hai bên cùng đồng một loại ngũ hành cùng hiệp vói nhau, mà can chi sánh hợp, giúp thêm sức mạnh là tốt.
Ví dụ: Giáp Thìn, Ất Tị, Phú Đăng Hỏa (lửa đèn), và Bính Thân, Đinh Dậu là Sơn Hả Hỏa (lửa dưới núi) hai bên sánh hạp lẫn nhau, mới thêm sức nóng, sức sáng, thì gọi là: Lưõng Hỏa thành viêm.
Còn như xấu, thì người ta nói:
Lượng Mộc Mộc chiết.
Lưỡng Kim Kim khuyết.
Lưỡng Hỏa Hỏa diệt.
Lưỡng Thủy Thuỷ kiệt.
Lưỡng Thổ Thổ liệt.
Như hai bên cũng đồng thuộc ngũ hành. Nạp âm như nhau, mà có can khắc hay chi xung. Nếu bổn mạng bị xung khắc thì không nên dùng. Vào trường hợp này, không khi nào có một lượt vừa can khắc, vừa chi xung.
Ví dụ: Mậu Tý, Kỉ Sửu là Thích Lịch Hỏa (lửa sấm sét) và Mậu Ngọ, Kỉ Mùi là Thiên Thượng Hỏa (lửa trên trời) hai bên thiên cung đồng một loại, mà địa chi lại tương xung. Nếu hai bên gặp nhau, mà bổn mạng bị xung hay khắc, thì gọi là Lưõng Hỏa Hỏa diệt.
Cũng có sách nói: hai bên đồng một thứ ngũ hành, cả hai đấu nếu sức mà gặp nhau, là tốt. Như hợp lửa đèn và lửa dưới núi nói trên thì gọi là: Lưỡng Hỏa thành viêm. Còn hai bên đồng một thứ ngũ hành, cả hai đều mạnh sức mà gặp nhau là xấu. Như hợp lửa sấm sét và lửa trên tròi nói trên, thì đó là Lưỡng Hỏa Hỏa diệt.
Thuyết này chưa chắc là đúng, không nên quá tin theo. Vì dầu yếu, dầu mạnh mà can chi tương sanh hợp, hay là can chi tuy xung khắc mà xung khắc bổn mạng, thì cũng ít hại. Ngũ hành Nạp âm tương khắc còn có khí tốt thay, huống hồ là hai bên tỉ hoà cùng nhau, phần tốt lấn hơn phần xấu là dùng được.
Nên chú ý: chánh Ngũ Hành là phần căn bản, còn Ngũ Hành Nạp âm là phần phụ thuộc mà thôi.