Long mạch tại đất Việt Nam

Địa lý toàn thư

LONG MẠCH TẠI ĐẤT VIỆT NAM
Xem long mạch thuộc vể nước Việt Nam thì có mấy Đại Long Sơn như sau:
A. Đại Kiện Long là dãy Trường Sơn hay Hoành Sơn vẫn là một phát nguyên từ vùng núi nước Trung Hoa qua tỉnh Vân Nam chạy dài về phía phải ngạn Đông qua miền Bắc Việt vùng Thượng Lào vào miền Trung Việt Nam Ai Cập. Lào giáp nhau suốt đến miền Nam Việt
Nam mới đình chỉ. Phía Đông và Nam là Biển Đông Nam Hải, phía Tây Nam thì sông Cửu Long là giới hạn Long Mạch.
B. Dãy núi Ba Vì (Tản Viên Sơn) cũng nổi liền từ miền núi tỉnh Vân Nam nước Tào, qua vùng phong thổ, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Hưng Hóa, Sơn Tây dãy núi này một bèn là bờ sông nhị hà là giới mạch bên trái ngạn bên phải là sông Đà và sông Mã ở miền Bắc Việt Nam, qua vùng Hạ Đông, Hòa Bình, Hà Nam, Nam Định v.v…
c. Dãy núi Tam Bảo cũng phát nguyên từ tỉnh Vân Nam nước Trung Quốc qua vùng Bảo Lạc, Nguyên Bình, Tuyên Quang, Vĩnh Yên v.v… Là Đại Kiền long qua tỉnh Phước Yên, Bắc Ninh, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định là vùng Bình Dương Bắc Việt.
D. Dãy núi Huyên Đinh cũng phát nguyên từ dãy núi Thập Vạn đại sơn về nưóc Trung Quốc qua vùng Đông Hưng, Mống Cái, Yên Châu, Tiên Yên, Quảng Yên, Hải Phòng. Một chi đi qua vùng lục nam, Đông triều, sùng nghiệm đến phả lại Giáp Lục đầu giang băng qua vào miền Bình Dương (đồng bằng) tỉnh Hải Dương v.v…
Những dãy núi kể trên đều là những đại kiện long tức là thái tổ sơn của các thiếu tổ sơn ở trong những vùng ấy đã nảy ra bao nhiêu chi phái tức là tông sơn, khắp nước Việt Nam. Đã có nhiều chỗ đã chạy lìa thoát sa cả ra ngoài biển vả các côn đảo ở ven biển Việt Nam, những chỗ đó là băng hồng long mạch, thưòng có những đất quý.

PHƯƠNG PHÁP XEM LONG MẠCH
phong thủy“>thuật phong thủy coi Long mạch là vấn đề phức tạp về học vấn “Xem Long mạch như thế nào? Trưóc hết phải xem tổ sơn (núi tổ) của long vì tổ sơn là căn nguyên của cát hung. Từ xa đến gần, núi tổ được xếp theo thứ tự Thái tổ, thái tông, thiếu tổ, thiếu tông, phụ mẫu. Núi tổ tốt thì mói có huyệt tốt và mới có vận tốt”.
Xem xét tổ sơn rồi xem xét lai long. Đất là thịt của long, đá là xương của long, cỏ là lông của long. Long có thuận có nghịch. Nghịch thì quí, long phải tụ không được phân tán. Long phải dừng lại không được bỏ đi. Long có mười mấy loại, như Du xà long, Bình công long, Sai nga long, hưng xạ long, Cô tú long…
Long mạch có xấu có tốt. Hễ chủ sơn (núi chủ, núi chính) mà nhấp nhô uôn lượn, đĩnh cao đẹp đẽ, chi cước (nhánh) đi liền với thân, thế núi nguy nga thì là núi phát phước long mạch phần là tản mạn yếu ớt, cứng nhắc phù nề, thô lậu, thẳng đuột, tản mát, nhọn hoắt đều không tốt. Lại còn phải xem chi sơn (núi nhánh) chi sơn phải như kho lẫm, như cờ như trống, phải có qui cách, như thiên mã quí nhân, như hốt ấn văn bút, rương vàng kiếm báu. Tác dụng của chi sơn là đưa đón cung phụng, hộ đỡ khiến chủ sơn (núi chính) càng oai phong lẫm hệt.
Thuật Phong Thủy còn lấy bát quái để giải thích Long mạch, cho rằng kiền sơn chủ quí nhân sống lâu: Khảm sơn chủ trung hậu sống lâu hiền đức lương thiện: cấn sơn chủ nhân đinh hưng vượng: Chấn sơn chủ sinh nam sinh nữ: Tôn sơn chủ nhân có rể hiền: Khôn Sơn chủ phụ nữ sống lâu: Đoài Sơn chủ đổ đạt cao: Ly Sơn chủ tai họa.
Thuật Phong Thủy dùng “khí” để giải thích “sơn” nói rằng khí bất hòa thì núi không xanh tốt, khí chưa dừng thì sơn đi, khí chưa tụ thì sơn cô độc, khí không đến thì mạch đứt đoạn, khí không vận hành thì sơn chồng chất toàn đá. Lại nói có 5 loại núi không được chôn cất ở đó: một là núi đá, vì khí chỉ vận hành trong đất, hai là núi đứt đôi, vì khi đên bằng mạch, ba là núi còn non tuổi (đồng sơn) vì khí hòa hoãn mà sinh ra, bốn là đạo sơn (núi làm cầu dẫn) vì khí dừng lại do thế núi, năm là núi cô độc vì khí theo long mà tụ hội. Năm loại núi này lại có thể biến thông như núi đá có huyệt đất, núi non nhưng khô ráo đều có thể mai táng.
Xem núi xong còn phải xem địa hình, tức cái gọi là “Nhập Thủ” Thuật Phong Thủy cho rằng Long nhập thủ bằng 5 cách: (trực thẳng) hoành (ngang) hồi (vòng lại) phi (bay) tiềm (ẩn).
Trực long là xong thẳng phía sau lưng, đỉnh đối diện với lai mạch kết huyệt, cách này khí thế mạnh mẽ. Phát phú cực nhanh. Hoành Long là hạ xuống bên cạnh, Hồi Long là uôh lượn, Phi Long là kết tụ ỏ trên, Tiềm Long là sa xuống biển. Ngoài ra còn có cách nhập thủ xiên long tức long mạch tránh né đây là dịp thử thách thuật Phong Thủy nhận biết giỏi hay không. Nếu như nhập thủ không đẹp tất cả đều là công cốc.
Long mạch đại để là vậy. Thuật Phong Thủy xem xong hình thắng rồi dùng la bàn định phương vị. Xem nhập thủ ở chữ nào trong tứ cục At Tân Đinh Quý thì long nào là sinh vượng chi địa, cắm chỗ sinh vượng tránh bát sát (8 sát) theo phép mà định hướng kết huyệt.
Thuật Phong Thủy cho rằng xem long mạch không phải là chuyện dễ. Long mạch dài xa thì trên ngàn dặm gần lả vài chục hai ba dặm từ nơi khởi tô” phát mạch đến nơi nhập thủ, khoảng giữa là Thái Tổ, thiếu tổ, xuyên trướng, Quí hợp, Đôn thiết, tốc khí rất nhiều nơi. Vừa sợ gió thổi mạch lộ, vừa e xuyên qua đồng ruộng mạch ẩn. Do vậy xem long mạch là công việc khó nhất của Phong Thủy.
Xem cát mà phong thủy phải dựa vào ngộ tính (thấu hiểu) “Thanh nan hải giác kinh – Tinh tình” căn cứ vào sau để điểm huyệt. Làm sao biết được mạch ly xuất khí? Những chuyện này chỉ có thể xác định bằng cách thức không bình thường, phải thấy có từ trong cái không lưu lại cái đang đi tụ lại cái không tản, thần khí bay ra ngoài cái nhỡn tiền đực cái đen trắng, mà muôn có thần khí ấy nói thuật gia phải có con mắt đạo phép là như vậy Lại nói đáy nưóc thì có đạo nhõn, trong đá phải có được thầy giỏi nếu quả có một đạo thần quang soi sáng cửu hạ được như vậy thì thật khác người! Ngước nhìn thế của hậu long, cứ trông tình hình nhập thủ, đứng bên mà xem xét tong (theo) tá (giúp) mà quan sát triều (chầu về) nghênh (nghênh tiếp) biết rõ thế đi, biết tình hình sẽ đến, không là cái này thì là cái kia.