Long mạch tại đất nước Trung Quốc

Địa lý toàn thư

Đại lục Trung Hoa có 2/3 đất đai là sông núi, như vậy nơi nào cũng có Long Mạch.
Các nhà phong thủy có cách nhìn độc đáo về thế núi ở Trung Quốc. Họ cho rằng: “Trung Quốc ở về phía Đông Nam dãy Côn Lơn, mà Sơn Mạch trong thiên hạ kể cả nước ngoài thì Côn Lôn là thủy tổ. Các núi ở Hà Bắc đều đến từ Bắc Hoàng mà vươn lên phía trên, các sông ở phía Tây dãy núi đều chảy vào Tây Hà Long Môn. Các sông ở phía Đông chảy qua u ký vào biển Đông. Dãy núi phía Tây là dãy núi Phụng Nhạc Hồ Khẩu, dãy thứ hai ôm núi đồng bằng Phần Tấn”.
Một dãy khác là Hằng Sơn, một dãy núi là Thái Hàng Sơn, dãy Thái Hàng dài 1000 dặm, cực cao, nhánh dài nhất của nó là Yên Sơn chạy dài đến tận Bình Lạc, phía Nam Hoàng Hà là các núi thuộc Quang Trung, đều từ Thục Hán chạy lên, một nhánh tới Tràng An và chấm dứt ở Quang Trung.
Một nhánh bắt đầu từ u cốc, đến cao thiếu, chấm dứt ở Thái Sơn Phía Đông.
Một nhánh từ Bắc Hán Thủy kéo dài đến tận Dương Châu.
Các núi ở Giang Nam đều bắt đầu từ nguồn Mãn Giang mà có Mãn sơn chạy dọc hai bên bờ Trường Giang, dãy bên trái đi Giang Bắc rồi tỏa đi rất nhiều nơi.
Dãy bên phải phân tán xuống Mân Quảng – Giang Nam, chấm dứt ở Kiến Khang, Lưỡng chiết một nhánh của nó là Hành Sơn, đến tận phía Tây Cửu Giang – Động Đình. Một nhánh nữa qua Quế Lĩnh, vòng qua Tương Nguyên lên phía Bắc đến tận Lư phụ. Một nhánh nữa từ Nam sang Đông ôm lấy Bình Nguyên bằng Lê, qua xạ hành sơn đến tận Kiến Khang lại một dãy chia nhánh từ Thiên Mục Sơn chạy đến Chiết. Các núi ở Tây Trường Giang đều đến từ Ngũ Lỉnh Cán, đi từ Nam lên Bắc. Các núi ở Mân Quảng thì chạy từ Bắc xuống Nam một nhánh ôm lấy đồng bằng Chiết Giang, Bất Thủ đến tận Cốì Kê, đuôi phía Nam đến tận Mân Việt. Đây là đại cương về tổ tông chi phái núi non ở Trung Quốc.
Nhà Phong Thủy chia các đơn mạch nói trên thành ba con rồng cho rằng các chi lưu phía Đông Nam của núi Côn Lôn phân bô” ở Trung Quốc lại chia thành ba chi, chi trái chạy vòng âm Sơn Gia Lan, đến Sơn Tây thành núi Thái Hàng rồi đâm ra biển, gọi là Bắc Long (rồng bắc). Chi giữa chạy dài từ Tây Phồn đến Mân Sơn, xuôi dọc hai bờ Mân Giang, dãy bên phải bờ sông chạy đến Tự Châu, dãy bên trái ngoặc lên phía Bắc đi Quang Trung hệ mạch rất phân tán. Dãy bên trái sông Vị bên phải sông Hán là núi Thái Hoa – Chung Nam. Đi xuống Thái Nhạc thành Cao Sơn, rẽ phải thành Kim Sơn ôm lấy Hoài Thủy, rẽ trái vào Bình Nguyên thành Thái Sơn rồi ra biển, đó là Trung Long (rồng giữa).
Nhánh bên phải từ Tây thổ Phồn xuôhg Lệ Giang đi Vân Nam; vòng Niêm ích. Quan Sách quí châu đi nguyên lãng phía Đông rồi một nhánh qua Vũ quan đi Trường Giang đến Vũ Lãng ở phía Tây. Một nhánh nữa từ Quế Lâm Hải Dương Sơn qua Cửu Nghi Hành Sơn đến Trường Giang rồi quặt về Khuông lư ở phía Đông. Lại có một nhánh qua Vũ Lãnh vượt thảo nguyên đến Tam Ngô Thiên Mục Hoàng Sơn. Qua Vũ Linh lại phân nhánh đi Tiên Hà Quan đến quan mãn: một nhánh chia từ địa bạn sơn, bên phải xuôhg quát thương, bên trái là Tứ Minh Thiên Đài rồi đâm ra biển đó là Nam Long (rồng Nam).
Việc chia các Sơn mạch như trên, quan điểm của các nhà Phong Thủy không nhất trí, mỗi người có một cách giải thích. Như trong “Cổ Kim đồ thư tập thành – Kham Dư bộ – nhạc giao tư ngũ” giới thiệu sự trình bày của Lưu cơ đời Minh về “Nam Long” như sau: “Địa mạch ở Trung Quốc đều rõ, riêng mạch Nam Long từ Nga Mi chạy về Đông không rõ kết thúc chỗ nào, chỉ biết chợt chạy qua Thông Châu rồi ra biển, mới rõ đấy là nơi tận cùng Nam Long…”

Liêu Hi Ung đời Minh trong “Táng kinh dực” viết: “Quang Trung là sống lưng của thiên hạ, là đầu rồng của Trung Nguyên. Kí Châu ở chính giữa thái Hàng, xương sống của dãy trung. Lạc Dương là trung tâm của thiên hạ, tinh túy của Trung Nguyên. Yên Đô là chỗ tận cùng của Bắc Long (Long mạch phía Bắc sông áp lực làm địa giới phía sau, sông hoàng dẫn phía trước, triều nghênh vạn phái, đón trước đỡ sau là nơi tụ hội của cả miền Bắc”.
Mỗi vùng đều có Long Mạch, Quế phước đời Thanh tại “văn học trái tập đáp chu thư xương luận Sơn Đông địa mạch”, quyết minh toàn diện về địa thế Sơn Đông, phân thủy làm ba: Một dãy là âm Bình Lính, hai là Bồi quỉ của Sái Thủy, ba là nguyên sơn của Vô Lai. Qua ba eo này, Đông nhạc cao chọc trời. Tuy Lai là kỷ án của đông nhạc. (Đông) Nhạc là khởi tổ, chia ra làm nhiều nhánh. Mạch chính chạy xuống Tây Nam, qua Đông Á, Phi Thành, ngược tế thủy và tận cùng là Đông Bình nếu không phải núi chính và lớn thì làm sao có thể vượt dòng sông lớn như vậy?

Thế núi của Trung Quốc quên trình bày như thế nào? Thế núi đi về đâu? Phân chia như thế nào? Quan điểm khoa học là:
Địa thế của Trung Quốc phía Tây cao, phía Đông thấp, vị trí cơ bản là cao nguyên Thanh Tạng ra Thái Dương theo bậc thang. Thế đất này, cách đây hai ngàn năm đã được ghi chép trong “Sỏ ký” – Thiên Quan Thư. Núi sông Trung Quốc đều chạy theo hướng Đông Bắc, bắt đầu từ lũng thục, đuôi ở bột (hải) kệ.
Lục địa Trong Quốc có thể chia ba bậc thang – ba bậc này có thể thấy được qua hai triền sơn mạch Đông và mạch Tây, Triền sơn mạch phía Tây và núi Côn Lôn, núi kỳ liên, núi Mân; núi củng lai, núi đại tuyết. Các sơn mạch này từ hướng Tây Nam cao nguyên Thanh Tạng đâu về Đông tạo thành bậc thang số một, cách mặt biển trên dưới 4000m.

Nhìn đại thể các thế núi không phải là tất cả từ Tây sang Đông. Ớ Trung Quốc có các sơn mạch theo hướng Đông Tây như phía Bắc có Thiên Sơn, Âm Sơn: giữa có núi Côn Lôn, núi Lục Bàn: Nam có núi Hoành Đoạn. Nước ta còn có cắc mạch theo hưóng Tây Bắc, Đông Nam như phía Tây có dãy Đại Hưng An, núi Thái Hàng, núi Ư, núi Vũ Lăng, núi Tuyết: phía Đông có núi Trường Bạch. Ngoài ra còn có những sơn mạch theo hướng Tây Bắc – Đông Nam như dãy An Tai núi Lý Liên v.v… Những sơn mạch này xen kẽ chồng chéo như mắc võng.
Nguyên nhân tạo thành địa thế là do hai cuộc vận động tạo sơn thòi thái cổ. Cuộc thứ nhất là tạo Yên Sơn thời kỳ trung sinh đặt nền cho các núi cao thấp lởm chởm. Thứ hai là thời kỳ Tân Sinh, cuộc vận động Hi-ma- lay-a tạo nên sự cao thấp khác nhau rõ rệt.
Lấy Vũ Hán làm ví dụ, gần Vũ Hán có hai sơn hệ thứ nhất từ qua Đỉnh sơn đến Cửu Phong Sơn hệ thứ hai từ Kim Khẩu đến Chi Phường, đều theo hướng Đông tây. Hai hệ núi này đều do rất nhiều núi nhỏ hợp thành, như núi Mã Yên, núi Ma, núi Dụ Gia, núi Nam Vọng, núi Lạc Già, núi Nguyên Bảo, núi Hồng, núi Xã, núi Qui núi Biển Đán. Đó là sơn hệ Cửu Phong Sơn – Qua Đỉnh Sơn. núi Mã Long, núi Qui Vĩ, đó là sơn hệ Kim Khẩu Chi Phường. Căn cứ vào phân tích địa tầng, các núi này được tạo nên do nước biển xâm nhập qua các thòi kỳ lịch sử của địa chất mà trầm tích đáy biển cách đây một năm mươi triệu năm, thòi Lý kiến tạo vỏ quả đất, cuộc vận động Yên Sơn miền trung hạ lưu Trường Giang và phần lốn là miến Bắc, từ đáy biển nhô lên thành núi.
Núi ở Vũ Hán xưa hơn nhiều so với đỉnh Chu-mu- lung-ma cao nhất thế giới. Chu-ma-lung-ma chỉ cách đây ba mươi triệu năm có thể coi là cháu chắt của quần sơn Vũ Hán. Nếu nhà Phong Thủy trọng Tây mà coi thường Đông thì đúng là “bất hiếu” vì rằng quần sơn ở trung, hạ lưu Trường Giang ở phía Đông cao tuổi hơn nhiều so với các núi cao ở phía Tây.