Kiến trúc nhà ở trên thế giới

Địa lý toàn thư

Thời nào nơi nào ngôi nhà ở luôn gợi cho con người một cái gì ấm cúng thân thương, an toàn… Với các nhà nghiên cứu lịch sử, ngôi nhà ở còn biểu hiện một quá trình tiến hóa với nhiều vấn đề lý thú và phức tạp. Nó không chỉ là một di tích lịch sử mà còn là thước đo trình độ khéo léo và kiến thức của người kiến trúc. Giá trị của nó tùy vào nghệ thuật sử dụng vật liệu và khả năng thích nghi với khí hậu.
Sơ đồ lôì kiến trúc và bôi cảnh của ngôi nhà ở thường biểu hiện một lối sống, trình độ kinh tế gia đình những truyền thốhg tư tưởng và cả những truyền thông nghề nghiệp nữa vì thường nhà ỏ cũng là nơi làm việc. Do đó ngôi nhà ở là một bằng chứng trình độ phát triển xã hội và văn hóa của một nền văn minh.
Thời đại chúng ta do hoàn cảnh thiên nhiên, do còn những khác biệt về kinh tế, văn hóa, xã hội… Chúng ta thấy xuất hiện nhiều lôT sống khác nhau tạo nên nhiều kiểu nhà khác nhau. Từ ngôi nhà chọc tròi ở Niu-Yóoc đến các ngôi nhà làm trên nước ở In-đô-nê-xi-a và Pa- pua-xi-a từ những ngôi biệt thự xinh đẹp ở Lê-nin-grát đến các nhà chồi ở miền quê Việt Nam quả có khác, mà chính qua đó mà chúng ta hiểu rằng giữa các nền văn minh có những khác biệt tiến hóa.
Ngay cả ở bên trong cùng một nước, vào một thời điểm việc xây dựng ngôi nhà cũng có những khác biệt. Một ngôi nhà ở thành phô” khác xa một ngôi nhà ở thôn quê và ngay cả ở thôn quê vẫn có những quan điểm về nhà cửa khác nhau và cách thức thực hiện khác nhau. Do đó muốn phân tích sự tiến hóa trong cách xây nhà cửa của một nước không phải là chuyện dễ.

Kiến trúc nhà ở trên thế giới 1

■ Nhà ở thời thượng cổ trên thế giới
Ngay từ khi xuất hiện trên mặt đất con người dã cảm thấy gần giông nắng che mưa và đổi vó với những hiểm nguy chung quanh, nghĩa là cần có nơi ấp trú. Lúc ban đầu như hang động tự nhiên cũng đã là đủ vì chưa thực sự có khoa học, kĩ thuật, vì dân sô” trên thê” giói chưa có là bao.
Nhưng nhân dân mối đà phát triển của loài người rải rác trên năm châu và ỏ vào những khí hậu khác nhau, con người cảm thấy cần phải xây dựng cái mà dân gian gọi là: “Nhà ở” mà thòi đó là những chòi, làm bằng những nhánh cây đan vào nhau.
Muốn hình dung được ngôi nhà đầu tiên này, chúng ta cần gợi lại cuộc sông con người qua ba thê” kỷ văn hóa khác nhau:
Thời kỳ đồ đá củ
Người ta đã tìm thấy trong các hang động chu Khẩu Điếm ở Trung Quốc dấu vết than củi, cho vào bếp lò, được đào ngay trong đất. Thời đó người vượn Bắc kinh sống không khác thú bao nhiêu, ở Việt Nam trong các hang Thẳm Khuyên và Thẳm Hai tỉnh Lạng Sơn cũng đã tìm thấy dấu vết của người vượn ví dụ như chiếc răng. Những chiếc răng bé nhỏ này gần với răng người vượn Bắc kinh là chứng cứ chắc chắn về sự tồn tại của người vượn ở Việt Nam. Khí hậu ấm áp đòi hỏi con người phải tìm chỗ ấp náo do đó thời bây giò con người chưa biết che chắn hoặc đào hang để ở.
Cuối thời kỳ đồ đá cũ
Thòi nay là thời kỳ băng hà, khí hậu rất lạnh đưa đẩy còn người ấp trú che thân. Trưóc khi nghĩ đến việc tự đào lấy hang ổ con người đã biết tận dụng những hang động sẵn có và lưu lại trên nóc các hang này những vết tích của mình:
Đó là những hình vẽ bằng màu tự nhiên, hình bò rừng, hươu đực, voi ma mút và các hình người nữa.
Chính các hang động lát-xcô được khám phá năm 1910 ở Pháp đã cung cấp cho chúng ta những tư liệu quí báu về những bước đầu của nghệ thuật, ra đời vào thòi kỳ này. Văn hoá hậu kỳ đá cũ ở Việt Nam mà hiện nay ta biết văn hóa Sơn Vi. Theo những điều hiểu biết hiện nay thì các bộ lạc chủ dân văn hóa Sơn Vi đã cư trú trên một địa bàn rất rộng ở miền Bắc nước ta.
Có những bộ lạc Sơn Vi chủ yếu sồng ngoài trời như các bộ lạc vùng đồi V nít Phú và Hạ Bắc. Cũng có những bộ lạc sống trong các hang động mi đá vôi như ở các tỉnh Sơn La, Lai Châu… Trong hang đồng nội (Hà Sơn Bình) trên vách có khắc hình một con thú và ba mặt người.
Thời kỳ đồ đá mới
Nếu chủ nhân văn hóa Sơn Vi vừa cư trú ngoài trời vừa cư trú trong hang động thì bộ lạc văn hóa bình chủ yếu sống trong các hang động.
Hang con Mcong ỏ huyện cẩm Thủy tỉnh Thanh Hóa là một chứng cứ cho thời kỳ văn hóa này, người Hòa Bình thích sông trong các hang núi hay mái đá. Họ thích sông ở khu vực gần cửa hang, khoáng đãng có ánh sáng. Đôi khi cũng tìm thấy dấu vết là của họ, trong những vách tối. Họ thường chọn những hang thấp gần sông suối, nhưng cũng đã tìm thấy dấu vết của họ trong những hang rất cao trên núi.
Bên Châu Âu các đám người Châu Á tràn đến khắp nơi đem theo với họ nền văn minh nông nghiệp và chăn nuôi. Thời nay là con người đã biết cải tiến dần dụng cụ làm việc và từ đó các ngôi nhà ở của mình nữa. Lúc ban đầu người ta chỉ biết giũa những dụng cụ bằng đá và tra cán vào. Kế đó người ta đã khám phá ra đồng và sắt.
Đe tránh nưốc lũ và thú rừng, con người đã có sáng kiến cất nhà sàn. Nhiều vết tích nhà sàn thời tiễn sử đã được tìm thấy ở Thụy Sĩ. Hiện nay nhà sàn trên nước vẫn còn thông dụng, ở nước ta và ở một số’ đảo ỏ Thái Bình Dương, ở Su-ma- tra, người Ba Tắc (Batak) đã có thói quen dựng những ngôi nhà sàn lón, mái tranh cao và thẳng trên hồ Tô-ba.
Lều trại của dài bộ lạc du mục thường là một khung sườn nhẹ bằng gỗ, nhưng thay vì lợp đất hay tranh thì họ quấn vào cái sườn đó, hoặc là da thú hoặc là những dải vải chấp nối với nhau. Cái chòi của các bộ lạc Otx-chắc (Ostiak) ở Liên Xô hoặc bộ lạc Ti-pi-dơ (Tespees) da đỏ ở miền Bắc nưóc Mỹ, lại có một cấu trúc giông hệt cái chồi ở phờ-ri-di (Phrygie, miền Trung Tiểu Ấn). Họ thường đào hầm vào những mô đất cao. Trên miệng hầm, họ cấm sào và túm lại thành hình nón…