Kiến trúc nhà dân gian Việt Nam

Địa lý toàn thư

■ Từ thế kỷ 3-4 sau công nguyên cho đến ngày nay
Thế kỷ 3 – 4 sau công nguyên. Ngôi nhà Việt Nam thời xa xưa là một ngôi nhà lợp tranh hay là, có hai mái chính và hai mái đầu hồi che hai chái, cũng có loại chỉ có hai mái bịt đốc không chái. Vách bằng tre nứa hoặc bằng đất bùn nhồi rơm. Ngôi nhà có thể gồm từ một đến năm gian còn gọi là căn. Nhưng thường gặp nhất là ngôi nhà ba gian và một gian.
Hai kiểu nhà trên đã có rất lâu, khoảng thế kỷ thứ 3 – 4 sau công nguyên ở miền Bắc. Trong các ngôi mộ cổ đào được tại Bắc Ninh, Vĩnh Yên và Thanh Hóa, đều có những chiếc nhà nhỏ bằng đất nung giông hai kiểu như trên.
Từ thế kỷ XVIII-XIX ỏ vùng đồng bằng sông Cửu Long và miền Đông Nam bộ ngôi nhà ba gian cũng rất phổ biến.
Ngôi nhà ba gian tuy nhỏ bé nhưng đã giữ vị trí quan trọng trong buổi đầu con người đến khai phá mảnh đất này. Thuỏ sơ khai ấy, ông cha ta đã dựng lều, chòi để trồng trọt chăn nuôi. Dần dần theo thời gian hình thành những ngôi nhà lợp bằng rơm rạ, lá dừa nước, lá trung quân… và sau này là gạch, xi măng đúc sẵn, ngói, Phibro xi măng…
Kiểu nhà thay đổi tùy theo địa phương và cũng tùy địa vị xã hội của chủ hộ. Tại miền Bắc nhà được làm theo kiểu chữ đinh (J) ba gian hoặc năm gian, ở miền Trung nhà cũng được làm theo kiểu chữ đinh, lại có thêm nhà “vuông” nhà “rương”.
Nhà vuông tức là nhà ba gian chính thông nhau, hai gian nhà chái cũng thông nhau bằng một ngăn rộng sau những gian giữa. Còn nhà rương là nhà ba gian hoặc năm gian không chát trong tương tự như một chiếc rương.
Thời Phong kiến nhà các quan thường được cất theo kiểu chữ cong (I) hoặc chữ môn và có gác. Nhà dân thì không được làm theo hai kiểu trên và không được làm gác. Ai vi phạm sẽ bị trị tội. Loại nhà đặc biệt của miền Nam là loại nhà “bánh ít” bốn mái đều nhau nóc cao, mái dốc, loại này thỉnh thoảng còn thấy tồn tại ở một vài khu trong Sài Gòn.
Bên trong gian này ngăn với gian kia bằng hàng cột. Gian giữa là nơi thờ cúng tổ tiên cũng là nơi tiếp khách. Trước bàn thờ thường có kê một bộ trường kỷ và đôi khi giữa bộ trường kỷ bàn thờ còn có thêm một chiếc sập. Khách khứa được chủ nhà tiếp ở đó, bạn bè xa xôi cũng được mòi cơm uống rượu ở trên chiếc sập này. Phụ nữ không được phép có mặt ở gian này, mà chỉ được tiếp khách ỏ các gian phụ. Các gian phụ này bên phải thưòng là phòng của con trai và bên trái là phòng của con gái (hữu phòng và tả phòng).
Các gian nằm thành dãy được chia ra thành nhà  trên, nhà ngang và bếp. Nhà trên gồm có nhà thờ tổ tiên ở giữa nhà ngang và nhà bếp ở hai bên. Những dãy nhà này có thể vây quanh một sân rộng.
Trước nhà có một mái hiên, có khi chạy suốt cả mấy gian có khi chỉ đủ cho ba gian nhà chính. Nhiều nhà thay mái hiên bằng một giàn bông thiên lý hoặc bông giấy…
Sau nhà, thường là vườn, trước sân là ao. cổng vào nhà thường ở bên cạnh dãy nhà ngang.
Nhiều nhà của người dân nông thôn ở các tỉnh phía Bắc đều có cổng. Đi dần từ Huế vào Nam, cổng nhà ít thấy nữa nhất là ỏ thôn quê, nhiều nhà chỉ có một hàng rào cây xanh thấp hoặc một cái chà gai vững chảy để đến đêm, kéo ngang đủ ngăn ngõ ra vào.

Thực vậy, lối kiến trúc nhà ở bên Phương Đông nói chung và ở Việt Nam nói riêng không chỉ nhằm dựng lên một nơi trú nắng tránh mưa mà còn tạo được một nơi thanh lịch, có cây có cảnh. Nhà ỏ thường bao gồm nhiều ngôi nhà và mảnh vườn. Nhìn riêng mỗi nhà không có gì là đặc sắc nhưng toàn bộ rất ăn khóp vói khung cảnh chung quanh. Dù là đình, chùa hay nhà ở kiến trúc truyền thông Việt Nam luôn nhằm tạo ra môi trường dễ chịu cho người ở bên trong, hạn chế những bất lợi của thiên nhiên.
Hình ảnh nổi bật của ngôi nhà cổ truyền là bộ phận mái, chiếm tỷ lệ khá lốn trên chính diện của nhà, có khi chiếm tới quá nửa. Mái được cấu tạo rất dày bao gồm nhiều lớp ngói chồng lên nhau, xen giữa ngói là những lớp không khí có tác dụng rất lớn trong việc hạn chế ảnh hưởng của những tia bức xạ nhiệt. Trong ngôi nhà ở dân gian, mái lợp bằng lá gối hoặc rơm rạ cũng có tác dụng tương tự.
Bình thường nhà được dựng ngay trên mặt đất khác vói các ngôi nhà sàn ỏ Lào và Campuchia. Tuy nhiên ở những vùng cao nguyên và ở miệt Châu Đốc, Bạc Liêu cũng có nhiều nhà sàn trên đất hoặc trên nước.
Cho dù có nhiều kiểu nhà khác nhau, nhưng ngôi nhà Việt Nam ở nông thôn vẫn trung thành với một đường nét chung nhất mang nhiều đặc tính cổ truyền của dân tộc.
Dần dần nhà ngói vách xây đã thay thế cho những ngôi nhà tranh vách đất, hoặc nhà gỗ.
Tuy nhiên, “những tòa ngói cao” này là sở hữu của những gia đình khá giả mà mái tranh lụp xụp vẫn là nơi ăn chôn ở của người lao động.
Sự phát triển của ngành kiến trúc trên thế giới cũng giúp cho sự phát triển kiến trúc ở nước ta. Cuộc chiến tranh vừa qua ở nưóc ta đã phá đổ biết bao nhiêu nhà cửa, tổ ấm của nhân dân. Trong sự nghiệp xây dựng đất nước nền kinh tế rồi đây sẽ phát triển, chắc chắn nhân dân ta sẽ có những ngôi nhà xinh đẹp đầy đủ tiện nghi và hiện đại.

Kiến trúc nhà dân gian Việt Nam 1

Kiến trúc nhà dân gian Việt Nam 1

Kiến trúc nhà dân gian Việt Nam 1