Gió theo quan điểm của thuật phong thủy

Địa lý toàn thư

Gió là sự chuyển động của không khí. Các triết gia thời xưa có đủ các loại nhận thức về gió. “Trang tử – tiêu dao du” viết: “đất thỗ dài, hơi thở thành gió”. “Hoài Nam tử – thiên văn Huấn”: “khí của trời lúc giận là gió”. “Thuyết uyển” “khí của trời đất giao hòa thì sinh ra gió”.
Gió từ chỗ nào mà ra? Các triết gia cổ nói từ lòng đất mà ra “Hoài Nam tử – Lãm Minh”: “Loài chim bị ướt cánh tổì ngủ ở huyệt gió”. Chú: “Gió lạnh ở miền Bắc. Từ huyệt này mà ra”. Tấn Trương Hoa: “Bác vật chí” viết: “đầu của núi gió cao ba trăm dặm, huyệt gió như bị sét đánh, sâu ba mươi dặm, gió xuân từ đó mà ra”. Như vậy có nghĩa là, gió bắc từ lòng đất, gió xuân từ trong hang mà ra.
Gió giúp vạn vật thay đổi, cỏ cây tươi tốt, phấn hoa truyền đi. “Bạch Hỗ Tụng” viết: “Chồi non là lòi của gió”… Gió nhẹ làm cho đất ấm… Gió xuân làm cho vạn vật sinh sôi… Gió sa mạc khiến cho vạn vật khô héo.
Gió có quan hệ đến sự lành dữ của con người. Gió làm đổ nhà sập cửa, tắc nghẽn giao thông. Chu Vũ Vương đi đánh Trụ, Bão lam gây hết tàn, lọng Tần Thủy
Hoàng qua sông đến đền Tương Sơn, gặp bão không đi được. “Sử ký – Thiên quan thư” có ghi: “gió từ phương Nam đến, đại hạn: từ Tây Nam, hạn nhỏ; từ phương Đông nước lớn, từ Đông Nam, dân bị ốm đau, mất mùa Do đó, các triết gia cổ tôn thờ gió. Phục Nghi, Nữ Oa đều lấy gió làm họ. Các hoàng đế có hoàng hậu là gió, thời Xuân Thu có 4 nước là Nhiệm, Tii, Tu Cú, Chuyên Hút, quan hô gió.
Tôn sùng gió, tất nhiên phải quan sát gió. “Chu lễ – xuân quan”: (Bảo Chương Thị) có 12 điểm quan sát gió ứng vói trời đất rất giỏi phân biệt lành dữ. Thời Hán rất thinh hành phong giác là môt thuật chiêm phong (quan sát gió). “Hậu Hán Thu – Lang Ỷ Truyện” “cha tên là Tông, Tự Trọng Tuy, học “Dịch” do họ Kinh dạy, giỏi phong giác, đoán sao, lục nhật thất phân”. “Chú”: Phong giác là chỉ gió bốn phương bôn góc, để đoán lành dữ. “Tân Đường Thư – Nghệ Văn Chí” ghi chép “Phong giác” của Lưu Hiến Cung, 10 quyển đã thất lạc.

Do tình hình trên, nên thuật xem đất, coi gió là một trong những nội dung quan trọng. Nhà phong thủy tuyên truyền “thuyết về tám loại gió”: phía trưốc huyệt có Ao phong (gió từ chỗ trũng thổi ra), mình đường (bãi đất phẳng trước mộ) tất sẽ hất đi, án sa không có, đường khí khó thu, đông đến trâu đất, chủ bần hàn bại tuyệt. Phía sau huyệt có Ao phong, tức hai cánh tay bị lạnh, đương nhiên là không có chỗ dựa, huyệt tinh không thể khỏi dậy, chết yểu không con. Bên trái huyệt có Ao phong, thì long sa yếu ớt, chủ con trưỏng lênh đênh, góa bụa. Bên phải huyệt có Ao phong, tất bạc hổ không khuyết, không nâng đõ chi thứ, quặt quẹo, chết yếu.
Hai vai huyệt có Ao phong, tức phương vị chủ từ được thai nghén bị thương tổn, dù các mặt khác đều là gió lành, thì cũng chủ bại tuyệt. Hai chân huyệt có Ao phong: tất cháu té lễ nơi thấp, mất hết tài sản. Trong tám loại gió thì gió Cấp ở hướng Cấn là dữ nhất, là vì cung Dần là cơ tinh, cơ sinh phong tinh. Dù là chỗ đất long thủy sinh vượng, nếu cẩu thả ngồi cung Dần mà chịu gió Cấn, nhẹ nhất cũng bị bại hệt hoặc mắc bệnh điên, nặng thì nhà tang người chết.

“Thuyết tám loại gió”, lần ngược lên đến Tiên Tần, các triết gai khảo sát phương vị, nêu lên khái niệm tám phương, “Lã thị Xuân Thu – Hữu thủy lãm viết: “tám loại gió là gì? Gió Đông Bắc là viêm phong (gió nóng), gió Đông gọi là thao phong (ào ào) gió Đông Nam gọi là Huân phong (gió huy đất), gió Nam gọi là Cự phong (gió to), gió Tây Nam gọi là thê phong (rét buốt), gió Tây gọi là liêu phong (gió heo mây), gió Tây Bắc gọi là lệ phong (gió dữ), gió Bắc gọi là hàn phong (gió lạnh).” “Xuân Thu: khảo vị” bưu viết “Bát quái chủ bát (tám) phong, mỗi loại gió cách nhau bôn mươi lăm ngày. Còn là gió nhẹ. Chấn là minh thứ phong, Tôn là thanh minh phong, Ly cánh phong, Khôn là lương phong, Đoài Là xương kế phong, Kiện là châu phong, Khảm là quản mạc phong”.