Cách giải thích tên quẻ

Địa lý toàn thư

■ Phép đoán quẻ
Từ xưa đến nay có nhiều phép đoán quẻ. Tùy từng quẻ người ta cho mỗi hào một ý nghĩa: hoặc là mình (Thế: tức đi xin quẻ), người kia (ứng: tức kẻ làm ăn với mình hay muốn xin mình, giúp mình, hại mình…); hoặc là ý nghĩa cha mẹ, anh em, con cái, quan chức, tiền của, bệnh tật…
– Lại cũng tùy quẻ người ta cho mỗi hào thuộc vào một hành nào trong ngũ hành (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thọ), ngày tháng xin quẻ cũng vậy.
– Rồi cứ theo luật ngũ hành tương sinh tương khắc Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hoả, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc, xem hào nào sinh hay khắc hào nào, hào nào tốt, hào nào xấu. Điều mình xin được như ý không, bao giờ việc sẽ xảy ra…
Đôi khi người ta cũng dùng ý nghĩa của quẻ (như dược quẻ Thái, quẻ Tấn thì cho là tốt, quẻ Bĩ, quẻ Kiến thì cho là xấu), nhưng đó chỉ là phụ không khi nào người ta dùng ý nghĩa của hào (hào từ) mà rất chú trọng tới luật ngũ hành tương sinh, tương khắc kể trên.
Vậy Kinh Dịch ngày nay đã mất tính cách sách bói, mà mang tính cách thuần khiết, mặc dầu 64 quẻ vẫn được dùng để bói.
■ Môn đoán sô’ bằng 64 quẻ dịch
Hơn nữa, từ đời Tông, Trần Đoàn đã tìm được cách dùng 64 quẻ để đoán sô’ mạng của con người, lập ra môn Bát tự Hà Lạc, Hà là Hà Đồ, Lạc là Lạc Thư, còn bát tự là bôn chữ can của năm, tháng, ngày, giờ đó. Ông chuyển bát tự tám chữ đó ra con sô’ Hà Lạc, rồi lại chuyển sô’ Hà Lạc ra quẻ Dịch sau cùng chỉ cho ta cách coi những quẻ
Dịch đó mà đoán vận mạng của ta, thòi nào, năm nào, tốt hay xấu, nếu xấu thì nên có thái độ ra sao, hành động ra sao…
Lạ lùng nhất, là cách đoán sô” đó cũng có nhiều khi đúng không kém sô” Tử Vi cũng của Trần Đoàn tìm ra Thi sĩ Tản Đà về già tin nó lắm.
Cách giải thích tên quẻ
Tám quẻ nguyên thủy: Kiền, Khôn, Ly, Khảm, Cấn, Đoài, Chấn, Tô”n đã có tên từ trước Văn Vương, đức là biểu tượng của mỗi quẻ đã được truyền lại từ lâu, nên Thoán truyện không cần giải thích tên quẻ. Còn các quẻ khác, Thoán truyện chỉ giải thích tên. Cách giải thích bất nhất, không theo nguyên tắc nào cả. Theo Lý Kinh Trì trong Dịch truyện thám nguyên (Nghiêm Linh Phong dẫn trong Dịch học tân luận) thì có ba phương pháp dưới đây:
1. Lấy thứ vi của một hào mà giải thích, như:
– Quẻ Phong Thiên Tiểu Súc (1 ‘), Thoán truyện
giảng là: “nhu đắc vị nhi thượng hạ ứng chi viết tiểu súc nghĩa là cả quẻ chỉ có một hào âm (nhu), hào đó ỏ vị trí âm (chính vị), lại ỏ ngoại quái, có địa vị cao, ngăn cản cả năm hào dương, bắt phải nghe theo mình, do đó đặt tên quẻ là Tiểu Súc (nhỏ: âm là ngăn được lón: dương; súc đấy có nghĩa là ngăn).
Tên quẻ Thiên trạch Lý, quẻ thiên Quả Đồng Nhân cũng được giải thích theo cách đó.
2. Lấy “tượng”mà giải thích như:
– Quẻ Sơn Thủy Mông (ss ), trên là núi, dưối là nước, là nước có ý nghĩa là hiểm, cho nên giải thích là: “Sơn hạ hữu hiểm, hiểm nhi chỉ, mông”. Dưới nước có vùng nước hiểm tối tăm, ngừng lại không bước xuống, do đó có tên là “mông” (mù mờ).
Hai quẻ Thiên Thủy Tụng, Địa Hỏa Minh Di cũng dùng tượng để giải thích.
3. Giải thích nghĩa của tên quẻ, như:
– Quẻ Sư, Thoán truyện giải thích: “Sư, chúng dã”: Sư là đông người (một đạo quân).
– Quẻ Hàm, Thoán truyện giải thích: “hàm, cảm dã”: hàm (hợp nhau) nghĩa là cảm nhau.
4. Chúng tôi còn thấy một cách đặc biêt nữa là coi hình của toàn quẻ giống vật gì thì lấy vật đó mà đặt tên cho quẻ rồi giải thích quẻ.
Như quẻ Hỏa Phong Đỉnh ( _ _ ) vạch đứt ỏ dưới cũng như cái chân vạc, ba gạch liền ở trên như cái thân vạc trong chứa thức ăn, vạch đứt ở trên nữa như hai tai vạc, vạch hển ở trên cùng là cái đòn để khiêng vạc, vì vậy gọi là quẻ Đỉnh (vạc) và cả 6 hào đều giải nghĩa theo cái vạc. ■—
Quẻ Thủy Phong Tĩnh ( ) cũng hơi giống cái
giếng, hào 1 là mạch nước, hào 2, 3 là lớp đất ở đáy giếng, hào 4 là lòng giếng, hào 5 là nắp giếng, hào 6 là miệng giếng, vì vậy gọi là quẻ Tĩnh (giếng).
Quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp ( =”=) gợi cho ta hình cái miệng há rộng ra, với một cái quẻ cản ngang miệng: hào 1, 6 là hàm dưói và hàm trên, hào 4 là cái que, còn các hao kia là những vạch đứt như miệng họ ra. Hai hàm răng cái que (vật ngăn cách) cho nó gầy đi để hợp với nhau được, ngậm miệng lại được, do đó đặt tên quẻ là Phệ Hạp (Cắn để hợp lại).
Rõ ràng nhất là quẻ Sơn Lôi Di (EE ss ) y như cái miệng mở rộng ra để nuốt thức ăn (hai nét liền ỏ trên và ở dưới là hai hàm răng) cho nên đặt tên là quẻ Di: nuôi nấng.
Trường hợp này tựa như trường hợp 3 chỉ khác việc đặt tên quẻ thôi.