Bát quái biểu tượng

Địa lý toàn thư

– Lão âm là hai khí Âm đã trưởng thành được gọi là Thái Am nghĩa là khí Am sắp sửa bị suy tàn và biến đi.
– Thiếu Âm là khí Âm còn non sắp sửa trưởng thành để trở thành khí Thái Âm.
– Lão Dương là khí Dương đã trở thành, được gọi là Thái Dương được gọi là khí Dương sắp sửa suy tàn và biến đi.
– Thiếu Dương là khí Dương còn non sắp trưởng thành để trở thành khí Thái Dương.
Giữa bốh khí này có sự đối kháng nhau ở bên trong cũng như bên ngoài. Nhờ sự đôi kháng chuyển dịch này mà vạn vật có thể biến hóa.
Lão Âm là mặt trăng, là bóng tôl, là khí lạnh, là đàn bà.v.v… còn Lão Dương là mặt trời, là ánh sáng, là khí nặng, là đàn ông là những trạng thái đôl kháng lẫn nhau, nhưng không huỷ diệt nhau.
Trong lão Âm đã chứa sẵn khí thiếu Dương và trong lão Dương đã chứa sẵn khí thiếu Âm. Thiếu Dương và Thiếu Âm ứ lớn lên dần còn lão Âm và lão Dương mỗi ngày một suy tàn đi và bị thiếu Âm và thiếu Dương thay thế. Khi thiếu Dương và thiếu Âm trở thành Thái Dương và Thái Âm thì lại bị suy tàn đi như cảnh tre già măng mọc. Cái vòng luẩn quẩn cứ tiếp diễn như vậy và vạn vật cứ tiếp tục sinh hóa như người: lớn lên, già rồi lại sinh ra trong kiếp khác. V. và
Tứ tượng vận chuyển sinh ra bát quái là tám quẻ Dịch: Kiền, Khảm, Cấn, Chấn, Tôn, Ly, Khôn, Đoài.
Đây là bước tiến quan trọng nhất của Thái cực trong việc tạo thành vũ trụ. Chính ở lần biến thứ tư này vạn vật đã thành hình bởi vì bát quái đã là đầu mối để tạo sự hình thành của vạn vật.
1. Bát quái biểu tượng 5 chất quan trọng nhất để tạo thành vũ trụ và vạn vật là: Kim (vàng) Mộc (gỗ) Thủy (nước) Hỏa (lửa) Thồ (đất).
Kiến thuộc chất kim Khảm thuộc chất nước Cấn thuộc chất đất Chấn thuộc chất gỗ Tốn thuộc chất gỗ Ly thuộc chất lửa Khôn thuộc chất đất Đoài thuộc chất Kim
2. Bát quái biểu tượng 4 phương, tám hướng là:

Bát quái biểu tượng 1

3. Bát quái biểu tượng cho cơ thể con người.
Kiền là đầu
Khảm là tai hay máu huyết
Chấn là chân, tóc
Cấn là lưng, xương mũi
Tôn là đùi, cánh tay.
Ly là mắt, tim, thượng tiêu
Khôn là bụng, tỳ vị, thịt Đoài là phổi, lưỡi, đờm siễn.
1. Bát quái biểu tưọlng cho mỏ gia đình:
Kiền là cha Khôn là mẹ.
Chấn là trưỏng nam Tôn là trưởng nữ Khảm là trung nam Ly là trung nữ Cấn là thiếu nam Đoài là thiếu nữ
2. Bát quái biểu tượng cho bốn mùa:
Khảm là mùa Đông Chấn là mùa Xuân Ly là mùa Hạ Đoài là mùa Thu
Kiền Cần Tốn Khôn là các tháng giao mùa.
3. Bốt quái biểu tượng cho các hiện tượng vũ trụ: Kiền là Tròi
Khôn là Đất Khảm là Nưóc Cấn là Núi Chấn là Sấm sét Tốn là Gió Ly là Lửa Đoài là Trầm (đầm)
4. Bát quái biểu tượng cho các tính của vạn vật: Kiền là Mạnh cứng 
Khôn là Nhu thuận, mềm Khảm là Hãm âm hiểm Cấn là Ngưng chỉ ngưng đọng Tôn là Nhu hòa không định Ly là Vui vẻ Đoài là Đẹp lòng
5. Bát quái biểu tượng cho các vật trong gia đình:
Kiền là ngựa, ngỗng trời, voi, chim là Trâu bò, ngựa cái là Gà loài cấm trắng là Lợn cá, vật ỏ dưới nước là Tri, qui, cua, ba ba, sò ốc là Hổ, chó, chuôt la De
Địa hạt nhân sinh: bát quái cũng có khả năng tượng trưng cho bao nhiêu đôi tượng phức tạp khác nhau.
Bát quái biểu tượng cho gia tộc. Quẻ Kền  ba hào dương, tức Thái dương, tượng trưng người cha trong gia đình. Quẻ Khôn ba hào âm, tức Thái âm, tượng trưng người mẹ.
Ba quẻ thiếu dương tượng trưng cho ba con trai hay ba anh em trai.
Quẻ Cấn  là con trai lớn vói một hào dương trên hết.
Quẻ Khảm  hào dương ở giữa là con trai kế, tức thứ hai. 
Quẻ Chấn  hào dương dưới chót tức mới sanh sau, là con trai út.
Các định nghĩa trên đây cần được giải thích thêm, vì nó khác với ước lệ thông thường, mà người ta cho rằng do Châu Văn Vương đặt ra.
Theo thông thường thì quẻ Chấn là anh cả và quẻ Cấn là em út. Đây chúng tôi hiểu ngược lại, nghĩa là quẻ Chấn là em út vì hào dương ỗ dưới hết là mới sanh.
Do sự tiến triển tự nhiên thì hào dương đó lớn dần và leo lên nằm ỏ lằn thứ hai, tức nét giữa.
Rồi nếu nó có tuổi thêm thì nó leo lên nằm trên hết. Hào dương trên cao hết là nó bắt đầu già.
Vả lại quẻ Chấn là sấm, là động, nó nóng nảy như tuổi trẻ. Còn quẻ Cấn là núi, là yên tĩnh như người lớn tuổi.
Anh ở trên, em ỏ dưới, người lón tuổi ở trên, người trẻ tuổi ở dưới, thế nên mới hợp tình, hợp lý.
Ba quẻ thiếu âm tượng trưng cho ba con gái hay ba chị em gái.
Quẻ Đoài (EEÍEE) hào âm trên hết, là con gái lớn hay chị cá
Quẻ Ly ( — — ) hào âm ỏ giữa, là con gái giữa hay chị thứ hai.
Quẻ Tôn ( ) hào âm ỏ dưới hết, là con gái nhỏ
hay em gái út.
Quẻ Đoài là đầm ao, nưóc yên tịnh. Còn quẻ Tôn là gió nên hiếu động, đúng với tuổi trẻ. vả lại, đức tính của ngưòi con gái còn trẻ phải là đức khiêm tôn.
Trên đây bát quái được coi như thuộc về một gia đình nhưng cũng có thể nói rộng ra như một gia tộc hay một xã hội; còn các quẻ thiếu dương, thiếu âm có thể chỉ bà con hay người trong xã hội vào hạng trang lứa, anh chị em, hay vào hàng cô bác, ông bà. v.v…
Bát quái biểu tượng cho tuổi tác
Có thể ưóc lượng như sau:
Với các quẻ dương thì ta dùng số 7 làm căn bản và nhân sô’ đó với các sô’ dương: 3, 5, 7, 9.
Với các quẻ âm thì dùng số’ 8 làm căn bản và nhân với các số âm: 2, 4, 6, 8.
Quẻ Chấn (= =) tượng trưng lõì 21 tuổi vì 7×3=21
tuổi
^ Quẻ Khảm (ErEz) tượng trưng lối 35 tuổi vì 7×5=35 tuổi
Quẻ Cấn ( — rz) tượng trưng lốì 49 tuổi vì 7×7=49
tuổi
Quẻ Tốn ( ==) tượng trưng lốì 16 tuổi vì 8×2=16
tuổi
Quẻ Ly ( ) tượng trưng lối 32 tuổi vì 8×4=32
tuổi
Quẻ Đoài ( 1 tượng trưng lối 48 tuổi vì 8×6=48
tuổi
Sau hết quẻ Kiền, Khôn thuộc hạng tuổi già, đại khái như trên 60, vì: 7 X 9 = 63. 8 X 8 = 64
Thế là bát quái chỉ người trong gia đình hay xã hội một cách khá đầy đủ.
Về trẻ con thì trai dưới 7 tuổi, gái dưới 8 tuổi, không cần phân biệt, vả lại, có thể lấy số’ 3 thay sô’ 2 làm số căn bản.
Bát quái biểu tượng cho tính tình tâm lý.Có khi tuổi tác không thành vấn đề, mà phải xét con
người ở khía cạnh tính tình. Có thể một người lớn tuổi mà nóng nảy như một thanh niên háo thắng, và ngược lại, một người còn trẻ có thể có tính nết của một người đứng tuổi trầm tĩnh. Huông chi đàn ông có thể có âm tính, thích tĩnh hơn động, hướng về tiêu cực hơn tích cực, thích ẩn hơn hiện. Ngược lại, đàn bà có thể có dương tính.
Thế nên, muôn hiểu Kinh Dịch phải biết uyển chuyển, tùy trường hợp mà thích nghi, chứ không có cái gì cô’ định cả.
Lại nữa, tính tình của con người có khi thay đổi với thời gian, với hoàn cảnh. Người ta có thể thay đổi từ tốt ra xấu, hoặc từ xấu ra tốt, tùy ở bản trình của mỗi người.
Cũng có một sô’ người tính tình ít thay đổi, mặc dầu hoàn cảnh có thay đổi đi nữa cũng vậy. Họ có thể tốt vẫn tốt, hoặc xấu vẫn xấu. Dầu ở địa vị nào, họ cũng vẫn như vậy.
Bát quái có thể tượng trưng cho mọi trường hợp trên đây.
Thí dụ quẻ Chấn. Nếu lật sấp nó lại, thì thành quẻ Cán.
Ta thử lấy quẻ sô’ 51 của Kinh Dịch: ấy là quẻ Chấn trên Chấn dưới. Qua quẻ sô’ 52 là Cấn trên Cấn dưới. 51 52
Thê’ là đổi địa vị, là đổi tính tình, từ động qua tĩnh (từ năm tiết thành núi non).
Có 4 quẻ đổi tính chất trong khi di dịch, ấy là: Cấn, Chấn và Đoài, Tổh.
Có 4 quẻ không đổi tính chất trong di dịch. Ấy là Kiền, Khôn, Khảm, Ly.
Bôn quẻ này tượng trưng hạng người, vì tuổi tác hoặc vì bản trình, không hay thay đổi nhân cách.
Ngoài tính cách bền vững (stable) hai quẻ Khảm, Ly do hào trưỏng hoặc hào âm ỏ giữa có tính cách trung dung hoặc đắc trung.
Trong trường hợp rất đặc biệt, nó có thể biến dịch (Ly ra Khảm, Khảm ra Ly). Như quẻ số 29 là Khảm trên Khảm, biến đổi ra Ly trên Ly ỏ quẻ số 30.
Kiền Khôn cũng thế.
Bát quái biểu tượng cho quần chúng. Hai quẻ Kiền, Khôn có thể tượng trưng quần chúng. Các hiền triết Đông Tây đều có nói rằng ý dân là ý trời, hoặc dân muôn là trời muốn, hay tiếng nói của dân là tiếng nói của trời (vox populi vox Dei).
Quẻ Kiền ( ) tượng trưng quần chúng nam phái,hoạt động tích cực.
Quẻ Khôn (EE EE) tượng trưng cho quần chúng nữ phái tiêu cực, sinh hoạt yên lặng…
Quần chúng khi thì sáng suốt (Kiền), khi vì tốì tăm (Khôn)…
Nhìn chúng ta thấy vũ trụ và vạn vật đã nhò sự chuyển động, mà biến hóa từ cái không đến có, từ cái vô hình đến cái hữu hình, từ cái đơn giản đến cái phức tạp và không có vật gì có thể thoát được định luật của Dịch
Ngày nay các nhà bác học đã tìm được định luật sinh hóa của các sinh vật rất nhỏ như vi trùng là một sinh
hai, hai sinh bôn, bôn sinh tám.v.v…
Điều này đối vói cổ nhân chỉ là một nguyên tắc sơ đẳng của dịch lý đã tìm thấy từ hàng ngàn năm nay.
Thiện tiên sinh đã viết: nhất phân vi nhị, nhị phân vi tứ, tứ phân vi bát dã, nghĩa là một chia hai, hai chia làm bốn, bốn chia làm tám. Nguyên tắc này đã được ghi trong sách. Hệ từ truyện của Kinh Dịch như sau “Dịch hiệu – Thái cực, Thái Cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái”.
Mỗi quẻ đều có một số’ hiệu để chỉ số năng lượng khí âm, Dương thịnh hay suy của mỗi quẻ.
Kiền mang số 1 Đoài mang số 2 Ly mang số 3 Chấn mang số’ 4 Tốn mang số 5 Khảm mang số 6 Cấn mang số 7 Khôn mang số 8
Dịch âm: Kiền nhất, Đoài nhị, Ly tâm, Chấn tứ, Tốn ngũ, Khảm lục, Cấn thất, Khôn bát.
Tuy nhiên trong môn độn giáp mỗi quẻ mang một số hiệu khác căn cứ theo tám quẻ của Văn Vương gọi là Hậu thiên bát quái như sau.
Khảm mang sô’ 1 Cấn mang sô’ 8 Chấn mang số 3 Tô’n mang số 4 Ly mang số 9 Khôn mang số 2 Đoài mang số 7
Kiền mang sô” 6
Riêng số năm (5) được dùng làm sô” hiệu của cung giữa là Trung cung.
Tóm lại, bát quái có nhiều nghĩa khác nhau, tùy trường hợp, tùy phương diện, đại khái có những khía cạnh sau đây: thời tiết, hiện tượng, địa dư, tâm lý, gia đình, xã hội…