bang tra tim 8 du nien can cu vao mang cung phi cua chu nha hoac chong 53c8886c1323f - Bảng tra tìm 8 du niên căn cứ vào mạng (cung phi) của chủ nhà hoặc chồng

Bảng tra tìm 8 du niên căn cứ vào mạng (cung phi) của chủ nhà hoặc chồng

Địa lý toàn thư

■ Bảng số 1
Tìm phương hướng căn cứ theo mạng của chủ nhà để mở cửa cái chọn một trong 8 Du Niên.
Ví dụ chủ nhà cung kiền trỏ cửa hướng tây được sánh khí, trỏ thành hướng đông phạm Ngũ quỷ V.V..

Bảng tra tìm 8 du niên căn cứ vào mạng (cung phi) của chủ nhà hoặc chồng 1

Căn cứ vào mạng trạch (cung phi) của người chồng và người vợ hoặc hướng cửa cái ngôi nhà, để tìm ra một trong 8 Du Niên sỏ thuộc. Tuổi người chồng hoặc chủ nhà ở cột 1, còn 8 cột sau là cung tuổi vợ, hoặc hướng để cửa. Cung tuổi vợ và phương hưóng cung Cát như nhau. Ví dụ chồng Kiền vợ Khôn xem cột 1 chỗ chữ Kiền dò ngang vô tới chữ Khôn ở cột Phưóc Đức là đặng Phưốc Đức, hoặc ông cung Kiền day cửa hướng Khôn cũng là Phưóc Đức.

Bảng tra tìm 8 du niên căn cứ vào mạng (cung phi) của chủ nhà hoặc chồng 1

■ Nghị hào thần hoán tượng trừu
Trong bát trạch, hào sơ đều là Hỏa Yếm, hào nhị là thủ xả, nếu biến đổi sắp đặt quẻ không hợp bổn trạch cát lộ, thì đành bỏ thủ xả (hào nhị). Lấy Nam là Âm, lấy Bắc là dương, hoặc âm cải dương, hoặc dương cải âm, đều tự nhiên hợp phép, hào ngoại hào nội cũng như vậy.
Thí dụ, Kiền trạch sắp (đặt) thành quẻ Chấn, biến quái thành Đoài, Khảm trạch sắp thành quẻ Cấn, biến thành quẻ Tôn, thì gọi là Ngũ quỷ tu sinh khí. Cấn trạch sắp thành quẻ Khôn, biến quái thành quẻ Khảm, thì gọi là sao Họa Hại bổ sung sao Thiên Y. Tốn trạch sắp thành quẻ Cấn, biến quái thành quẻ Tôn, Ly trạch sắp thành quẻ Kiền, biến quái thành quẻ Ly, thì gọi là sao Tuyệt Mạng thêm sao Phục Vị. Khôn trạch sắp thành quẻ Ly, biến quái thành quẻ Kiền, Đoài trạch sắp thành quẻ Tôn, biến quái thành quẻ Cấn, thì gọi là sao Lục Sát tu tạo sao Diên Niên.
■ Bát quái tổng đồ
Hậu thiên lập bát quái là theo Tiên thiên bát quái đồ. Trong một quẻ có Phục Vị, Sâm vị. Thí dụ: Các quẻ Kiền, Cấn, Độn, Phủ, Quan, Bác, Tấn, Đại, Hữu… thuận theo thứ tự. Tiếp đó từ quẻ Đại Hữu biến thành quẻ Kiền, sinh khí của Thiên hoàn kết.

Bảng tra tìm 8 du niên căn cứ vào mạng (cung phi) của chủ nhà hoặc chồng 1

1 Kiến; 2. Đoài; 3. Ly; 4. Chấn
5. Tôn; 6. Khảm; 7. Cấn; 8. Khôn
a. Kim; b. Thổ; c. Thủy; d. Mộc; e. Hỏa

Lại như các quẻ Khảm, Tiết, Truân, Ký tế, cách Phong, Minh Di, Sư thuận, theo thứ tự, tiếp đó quẻ Sư đến quẻ Khảm, thì sinh khí của Thủy hoàn kết.
Lại như các quẻ Cấn, Bôn, Đại Súc, Tổn, Khuê, Lý, Trung Phù…, thuận theo thứ tự, tiếp đó quẻ Trung Phù biến lại quẻ Cấn, thì sinh khí của Sơn hoàn kết.
Lại như các quẻ Chấn, Dự, Giải, Hằng, Thăng, Tĩnh, Đại Quá…, thuận theo thứ tự, tiếp đó quẻ Đại Quá trở lại quẻ Chấn, Thì sinh khí của Sấm hoàn kết.
Các quẻ Tốn, Tiểu Súc, Gia Nhân, ích, Vô Vọng, Phệ Hạp, Di Cổ… thuận theo thứ tự, tiếp đó quẻ cổ trở thành quẻ Tôn, thì khi khí của Phong hoàn kết.
Các quẻ Ly, Lữ, Đình, Vị, Tế, Mộng, Hoàn, Tụng, Đồng, Nhân… thuận theo thứ tự, tiếp đó quẻ đồng Nhân trở lại quẻ Ly, thì sinh khí của Hỏa hoàn kết.
Các vẻ Khôn, Phục, Lâm, Thái, Đại Tráng, Quái, Nhu, Tỉ… thuận theo thứ tự, tiếp đó quẻ Tỉ trở lại quẻ Khôn, thì sinh khí của Địa hoàn kết.
Các quẻ Đoài, Khôn, Tụy, Hàm, Kiền, Khiêm, Tiểu Quá, Quy Muội… thuận theo thứ tự, tiếp đó quẻ Quy muội trỏ lại quẻ Đoài thì sinh khí của đầm trạch hoàn kết.

* BỔ SUNG HAI DU NIÊN ĐÁNG LƯU Ý
1. Sanh khí (các du niên)
Các việc thay đổi tu bổ thêm phòng ốc cả đến sự trồng bông lập vườn cứ theo phương Cát mà làm, kỵ tạo hung phương trong nửa năm họa phước có thấy ứng.
Mỗi cung mạng phương hướng Cát hung khác nhau. Kẻ này sánh khí hướng Tây Đoài, người nọ Sanh khí lại nơi Đông Chấn…v.v…
Có người dùng phương Sanh khí thì phát tài hưng vượng, còn người sao lại dùng phương Sanh khí mà điêu linh suy bại.
1- : Sanh khí thuộc Mộc tinh lập tại Thủy, Mộc, Hỏa vi đắc vị bất nghi kim Thổ phương.
2- : Thiên y thuộc Thổ lập tại Hỏa, Thổ, Kim vi đắc vị bất nghi Mộc, Thủy phương.
3- : Diễn niên thuộc Kim lập tại Kim, Thổ, Thủy ví đặc vị nghi Mộc, Hỏa phương.
Câu 1 trên nói: Những người dùng trạch Sanh khí nhằm hướng Thủy, Mộc, Hỏa mới đắc vị là phải chỗ tốt. Bỏi Sanh khí thuộc Tham Lang Mộc tinh nói tắt là mộc tinh cho dễ. Mộc tinh gặp Thủy được sanh sôi nẩy nở, gặp Mộc thêm rườm rà vượng phát, gặp Hỏa được tương sanh (xem lại ngũ hành tương sanh ngũ hành tương khắc). Bất nghi Kim, Thổ chẳng nên dùng hưóng Kim Thổ kỵ, vì Mộc tinh gặp Kim bị Kim khắc, mà gặp Thổ thì khắc Thổ cũng bất lợi (Sanh khí thuộc Tham Lang Mộc tinh hạp hạp kỵ tuổi nào? Hướng nào?).
Người mạng Kiền tức Sanh khí hướng Đoài, Đoài thuộc Kim khắc Mộc tin hung. Người Khảm Sanh khí hướng Tôn Mộc vượng phát Mộc tinh Cát. Ngưòi Cấn Sanh khí hướng Khôn Thổ bị Mộc tinh khắc hung. Người Chấn Sanh khí hướng Ly, Hỏa được tương sánh Cát. Người Tốn Sanh khí hướng Khảm, Thủy sanh Mộc Cát. Người Ly Sanh khí hướng Chấn Mộc được Mộc vượng. Người Khôn Sanh khí hướng Cấn thổ bị tương khắc. Người Đoài Sanh khí hướng Kiền Kim khắc Mộc tinh hung.
Hai câu sau cùng suy lượng ngũ hành sinh khắc như vậy: Nếu xét thấy tuổi nào phương Sanh khí có lợi thì dùng, bất lợi sẽ dùng Diên niên hoặc Thiên y cũng Đại Cát.
2. Ngũ quỷ (hung du niên)
(Ngũ quỷ hay Liêm trinh cũng vậy, rất độc hại bởi vậy có bài này luận riêng về nó. Có cả nguyên âm kèm lòi phóng dịch).
– Liêm quỷ nhập Đoài, kiến, tiểu khẩu định tai ương, trùng trùng tổn ngũ khẩu, gia trung bất an khương. Dịch: Sao Liêm trinh hay du niên Ngũ quỷ gặp Kiến Đoài thì con trẻ bị tai ương, hên tiếp làm tổn hại 5 ngưòi, trong nhà chẳng yên ổn, khỏe mạnh.
Liêm quỷ nhập thủy hương, khiến tử tao tai ương, trưởng tử tiểu khẩu, lụy lụy bệnh đa thương. Dịch: Liêm trinh hay ngũ quỷ gặp thủy hướng là cung Khảm sẽ không có con trai dễ gặp hỏa hoạn, con trưởng và trẻ nhỏ chết mất, thêm mãi bệnh hoạn và đau thương.
– Liêm quỷ Chấn Tôn gian, mỗi tuế đạo tặc hên, gia trung tài thất tán, nam nữ thọ ngao tiên. Dịch: Liêm trinh hay ngũ quỷ gặp cung Chấn cung Tấn thì trộm cướp tới hển liền mỗi năm, trong nhà tiền bạc hao mất, cả trai và gái đều bị héo mòn tàn tệ.
– Liêm quỷ đáo bổn cung, sơ niên nhi phòng vinh, trưỏng nam chuyên quyền bính, tài tán họa sự sinh. Dịch: Liêm trinh hay Ngũ quỷ gặp bổn cung là gặp cung của nó tức cung Ly (vì Ly đồng thuộc một loại hỏa với Liêm quỷ) thì lúc đầu hai phòng được quẻ vang, con trưởng nắm quyền hành, tiền tài hao tốn và sinh tai họa.
– Liêm quỷ nhập Cấn Khôn, lục súc tinh nan tồn, tây nam tổn ngũ khẩu, đông bắc thương tam nhân. Dị: Liêm trinh hay ngũ quỷ gặp cung Cấn cung Khôn thì lục súc đều chết toi. Nó ở Tây Nam (gặp Khôn) thì làm tổn hại 5 miệng (5 người), bằng ở Tây bắc (gặp Cấn) làm thương hại 3 người.

Xem thêm: Bán nhà nhanh chóng. Dễ dàng. Đăng tin của bạn tại Bán nhà Hải Phòng